Updated at: 16-05-2023 - By: Thầy Vũ Xuân Anh

Admin Chăm Học Bài hôm nay sẽ hướng dẫn các bạn cách Phân tích – bình giảng bài Trong lòng mẹ (Trích hồi kí Những ngày thơ ấu — Nguyên Hồng) chuẩn nhất 02/2024.

Dàn ý

1. Mở bài 

– Giới thiệu khái quát về Nguyên Hồng và đối tượng chính trong văn ông.

– Khái quát về tác phẩm hồi kí ” Những ngày thơ ấu ” và nêu vị trí, nội dung của đoạn trích “Trong lòng mẹ “.

2. Thân bài

a, Khái quát 
– Vị trí và nội dung chính của đoạn trích.

– Các biện pháp nghệ thuật trong đoạn.
b, Phân tích
* Hoàn cảnh cậu bé Hồng:  

– Hồng là kết quả của một cuộc hôn nhân không hạnh phúc. Cha mất sớm. Người mẹ vì cùng túng quá phải tha hương cầu thực. Chú phải sống xa mẹ, sống cùng họ hàng ở bên nội. Nhưng cậu lại không hề được yêu thương.

– Trong ngày giỗ đầu của cha, cậu vừa phải chịu nỗi đau mất cha, vừa phải nghe những lời châm chọc, cay nghiệt của người cô về mẹ của mình.

– Lời bà cô càng thâm hiểm, ác độc bao nhiêu thì chú bé lại càng đáng thương bấy nhiêu khi phải một mình chống đỡ yếu ớt lại miệng lưỡi người đời và những hủ tục lạc hậu, ác nghiệt.

* Cuộc nói chuyện giữa Hồng và cô ruột
– Bà cô luôn nói xấu về mẹ Hồng trước mặt cậu để khiến cậu khinh miệt và ruồng rẫy mẹ mình.

– Hồng đã nhận ra “rắp tâm tanh bẩn” trong đó , em đã chọn cách im lặng để bảo vệ mẹ mình.

=> Đó là hiện thân của những con người đã khô héo tình máu mủ , ruột thịt. Đó còn là sản phẩm của một xã hội đầy rẫy những bất công , hủ tục lạc hậu , những thành kiến đối với người phụ nữ.
* Tâm trạng Hồng khi trò chuyện với bà cô
– Càng nói chuyện với cô, Hồng càng thương mẹ nhiều hơn.

– Hàng loạt các động từ mạnh cùng phép so sánh , ẩn dụ đã được sử dụng ” Gía những cổ tục … nát vụn mới thôi”.

=> Hồng là đứa trẻ nhạy cảm , thông minh khi nhận ra những ý nghĩ cay độc trong lời nói của cô. Hồng luôn yêu thương mẹ , mong chờ mẹ về.
* Bé Hồng khi bất ngờ được gặp lại mẹ
– Hồng vô cùng ngạc nhiên , bối rối và hạnh phúc.

– Òa khóc khi được ở trong lòng mẹ –> sự hạnh phúc , xen lẫn sự tủi thân.

– Ngắm mẹ , thấy mẹ vẫn trẻ như hồi gia đình còn sung túc. —> Đang tận hưởng niềm hạnh phúc nhỏ nhoi mà sau bao ngày đau đớn , tủi hổ bây giờ em mới có được.

=> Cuộc gặp gỡ vô cùng xúc động , chạm đến trái tim của hàng triệu người đọc -> tình mẫu tử thiêng liêng sâu nặng không gì chia cắt được.
c, Đánh giá
– Đoạn hồi kí thấm đẫm chất trữ tình. Kết hợp giữa tự sự – miêu tả – biểu cảm.

– Tình huống truyện đơn giản nhưng hấp dẫn.

– Các hình ảnh so sánh độc đáo , phép tương phản.

– Khẳng định lại nội dung và gía trị của đoạn trích.

– Liên hệ các tác phẩm khác.

3. Kết bài

– Khái quát lại hình ảnh nhân vật chú bé Hồng và nghệ thuật của đoạn trích: Hình ảnh nhân vật chú bé Hồng khiến người đọc xúc động với tình mẫu tử thiêng liêng, cao quý.

Bài mẫu 1

Những ngày thơ ấu (viết năm 1938, Nhà xuất bản Đời nay in lần đầu năm 1940) là một tác phẩm xuất sắc của nhà văn Nguyên Hồng. Đó là một tập hồi ký ghi lại những năm tháng tuổi thơ rất ít niềm vui nhưng nhiều cay đắng của tác giả, thể hiện một cách chân thật những “rung động cực điểm của một linh hồn trẻ dại”. (Thạch Lam)

        Hồi kí Những ngày thơ ấu gồm 9 chương, Trong lòng mẹ là chương IV của tác phẩm. Nhân vật chính của chương sách này là bé Hồng. Bé Hồng được đặt trong tình huống hết sức tội nghiệp: bố mất, mẹ đi bước nữa bị gia đình nhà chồng ruồng rẫy. Bé Hồng phải sống nhờ họ hàng và bị hắt hủi tàn nhẫn. Em thương mẹ, nhớ mẹ vô cùng mà phải xa mẹ, đồng thời thường xuyên phải nghe những lời nói xấu về mẹ. Ta hiểu vì sao em vô cùng sung sướng khi mẹ trở về.

        Trong chương sách này, nhà văn đã tập trung làm nổi bật tình cảm xót thương, yêu quý sâu sắc của bé Hồng đôi với người mẹ nhân từ, tần tảo mà cuộc đời đầy bất hạnh. Tình cảm ấy trước hết được thể hiện qua tâm trạng cua bé Hồng khi nói chuyện với bà cô. Diễn biến tâm trạng của bé Hồng được miêu tả thật sinh động. Lúc đầu bé Hồng định nghe lời bà cô vào Thanh Hóa thăm mẹ. Nhưng khi nhận ra “ý nghĩa cay độc” trong giọng nói và trên nét mặt “khi cười rất kịch”, đầy giả dối của bà cô, bé Hồng lẳng lặng “cúi đầu không đáp”. Cử chỉ “im lặng, cúi đầu xuống đất” của bé Hồng lại được miêu tả lặp lại một lần nữa khi bà cô tiếp tục giục giã em vào Thanh Hóa thăm mẹ, vì mẹ em dạo này “phát tài lắm”. Bà cô đưa tin mẹ bé Hồng có con khi chưa hết tang chồng, lại nghèo túng khốn khổ nơi đất khách quê người, thấy người quen lại tránh mặt để lăng nhục bé Hồng và gieo rắc vào đầu óc em sự “hoài nghi”, “khinh miệt và ruồng rẫy mẹ”. Những lời cay độc của bà cô như những con dao nứa cứa vào tâm hồn thơ dại của đứa trẻ. Bé Hồng từ chỗ nhẫn nhục, “im lặng, cúi đầu” đến lúc không sao nén nổi nỗi đau đớn tủi nhục đã bật lên tiếng khóc, nước mắt “ròng ròng rớt xuống hai bên mép rồi chan hòa đầm đìa ở cằm và ở cổ”. Và một thứ tình cảm phức tạp, vừa thương yêu, vừa căm tức nẩy sinh trong tâm hồn ngây thơ của bé Hồng, khiến em “cười dài trong tiếng khóc”.

        Bé Hồng cười (cười mỉa mai) vì hiểu thâu những rắp tâm “tanh bẩn” của cô, vì khinh bỉ thái độ rất cay độc của bà: làm ra vẻ thông cảm, nhưng kỳ thực: chỉ có ý gieo rắc vào đầu óc em những hoài nghi “để em khinh miệt và ruồng rẫy mẹ”. Bé Hồng khóc vì thương mẹ bị đày đọa, bị lăng nhục, bị đối xử một cách tàn nhẫn, bất công, vô nhân đạo. Khóc vì thương mẹ chỉ vì “sợ hãi những thành kiến tàn ác” mà xa lìa hai con “để sinh nở một cách giấu giếm, trốn tránh như một kẻ giết người”. Càng thương mẹ, bé Hồng càng căm ghét những hủ lục phong kiên vô lý, tàn nhẫn đã đày đọa, trói buộc người phụ nữ. Lòng căm ghét cao độ, mãnh liệt ây đã được tác giả diễn tả bằng những hình ảnh cụ thể, cùng với nhịp văn gấp gáp, dồn dập: “Giá những cổ tục đã đày đọa mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thủy tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết vồ ngay lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kỳ nát vụn mới thôi”.

        Vậy là, dù có tinh ma, độc địa đến đâu, bà cô bé Hồng cũng không thể chia rẽ được tình cảm giữa em với người mẹ: “Nhưng đời nào lình thương yêu và lòng kính mến mẹ tôi lại bị những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến… Mặc dầu non một năm ròng mẹ tôi không gửi cho tôi lấy một lá thư, nhắn người thăm tôi lấy một lần và gửi cho tôi lấy một đồng quà”. Tâm địa xấu xa của bà cô chỉ làm khơi sâu thêm tình cảm thương yêu mẹ của bé Hồng và thổi bùng lên trong em sự căm ghét sâu sắc những kẻ đối xử tàn nhẫn với mẹ em. Có thể nói, chương Trong lòng mẹ là lời khẳng định chân thành đầy cảm động sự bất diệt của tình mẫu tử. Tình cảm thiêng liêng muôn đời ấy không một thế lực nào có thể tàn phá nổi.

        Cuối chương hồi kí, tác giả đã diễn tả thật cụ thể và sinh động tâm trạng của bé Hồng khi gặp mẹ. Một buổi chiều tan học, bố Hồng “chợi thoáng thấy một bóng người trên xe kéo giống mẹ” và em “liền đuổi theo, gọi rối rít”. Nhưng nếu người trên xe lại là người khác thì cái lầm đó thành ra một trò cười lức bụng cho lũ bạn. “Cái lầm đó không những làm cho tôi thẹn mà còn tủi cực nữa, khác gì cái ảo ảnh của một dòng nước trong suốt chảy dưới bóng râm đã hiện ra trước con mắt gần rạn nứt của người bộ hành ngã gục giữa sa mạc”. Thủ pháp so sánh ví von này đã diễn tả được một cách cụ thể sự khao khát tình mẹ con thật là mãnh liệt như người bộ hành ở giữa sa mạc khát nước đến cháy bỏng. Nỗi vui sướng của bé Hồng khi gặp mẹ còn được nhà văn thể hiện qua những cử chỉ, hành động. Vì cuống cuồng đuổi theo xe, bố Hồng “thở hồng hộc, trán đẫm mồ hôi” và “ríu cả chân lại” khi trèo lên xe. Và đến khi được bàn tay dịu hiền của mẹ xoa đầu thì bé Hồng “òa lên khóc rồi cứ thế nức nở”. Đó là ! khóc đầy hạnh phúc.

        Để diễn tả những rung cảm sâu xa và niềm hạnh phúc lớn lao của bé Hồng khi được ngồi trong lòng mẹ, tác giả đã miêu tả rất cụ thể những cảm giác của em khi ngồi trên đệm xe, đùi áp vào đùi mẹ, “đầu ngả vào cánh tay mẹ “. Em còn cảm nhận được cả mùi quần áo quen thuộc của mẹ và “những hơi thở ở khuôn miệng xinh xắn nhai trầu phả ra (…) thơm tho lạ thường”. Vừa trực tiếp miêu tả những cảm giác cụ thể của bé Hồng, tác giả vừa diễn tả những ý nghĩ của em bình luận về niềm hạnh phúc tuyệt vời của mình: “Phải bé lại và lăn vào lòng một người mẹ, để bàn tay người mẹ vuốt ve từ trán xuống cằm, và gãi rôm ở sống lưng cho, mới thấy người mẹ có một sự êm dịu vô cùng”. Trong những giây phút say sưa và “rạo rực” ấy, bé Hồng không còn nghĩ gì, thứ gì khác nữa kể cả những âu yếm mẹ con với nhau và những lời cay độc của bà cô trước đó. Tất cả tâm trí của em đều dồn cho sự tận hưởng tình mẹ. Đôi với em, niềm sung sướng và hạnh phúc nhất trên đời là được sống trong lòng mẹ.

Bài mẫu 2

Trong lòng mẹ trích từ tập hồi ký Những ngày thơ ấu của nhà văn Nguyên Hồng, kể lại những kỷ niệm cay đắng, tủi khổ thuở ấu thơ của nhà văn và người mẹ bất hạnh. Đong đầy trong đó là tình mẫu tử thiêng liêng sâu sắc, qua giọng văn cảm động, chân thực của tác giả.
Nguyên Hồng (1918-1982), tên khai sinh là Nguyễn Nguyên Hồng, quê Nam Định, ông lớn lên ở thành phố cảng Hải Phòng, trong một xóm lao động nghèo. Ông có một tuổi thơ cơ cực, đầy cay đắng, thiếu thốn tình cảm của cha lẫn mẹ, sống bơ vơ sự ghẻ lạnh của gia đình họ hàng. Nhưng cũng chính điều này lại là vốn sống tạo nên một nhà văn Nguyên Hồng bản lĩnh, chan chứa tình cảm, luôn luôn muốn thấu hiểu mọi lẽ đời, cái phong cách sống ấy gói gọn trong hai chữ “gia đình”. Nguyên Hồng được mệnh danh là “nhà văn của những người cùng khổ”, “nhà văn của phụ nữa và trẻ em”, rất đa tài, sáng tác được nhiều thể loại nhưng thành công nhất là văn xuôi. Văn của ông luôn chân thực, dạt dào cảm xúc và thấm đượm tình yêu thương.

Những ngày thơ ấu (1938), là tập hồi ký chân thực, có chiều sâu cảm xúc, gồm 9 chương viết về những kỷ niệm đau buồn cay đắng trong suốt thời thơ ấu của tác giả, mà theo như giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh: “Đó là những kỷ niệm đau xót, buồn tủi của một đứa trẻ sinh ra trong một gia đình phá sản, phải sống bơ vơ, đói rách, bị họ hàng giàu có và cái xã hội đồng tiền ấy hắt hủi”. Hồi ký là tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của nhà văn Nguyên Hồng. Đoạn trích Trong lòng mẹ nằm ở nửa đầu chương 4 của tập hồi ký.
Đoạn trích mở ra là cuộc đối thoại của cậu bé Hồng với người cô ruột. Hồng là kết quả của cuộc hôn nhân không tình yêu, người cha nghiện ngập vừa mất chưa đầy năm, người mẹ vì không chịu nổi cái sự o ép bên nhà chồng mà phải đi tha hương cầu thực. Sắp đến ngày giỗ đầu của người cha, cô ruột đã lân la tìm đến nói chuyện, những tưởng sẽ chăm sóc vun vén cho cậu bé, nhưng những lời của người cô lại như dao cắt vào lòng cậu bé Hồng, lời lẽ đầy mỉa mai, giễu cợt, ghét bỏ.

Đọc bài ta có thể tưởng tượng ra cái bộ dáng, đon đả đầy nham hiểm của người cô khi cười hỏi: “Hồng! Mày có muốn vào Thanh Hóa với mẹ mày không?”, nhưng bằng lòng cảnh giác, suy nghĩ già dặn trước tuổi Hồng chỉ lặng lặng cúi đầu đáp lời: “Không! Cháu không muốn vào. Cuối năm thế nào mợ cháu cũng về”. Thực chất Hồng đã nhìn ra được cái tâm tư của người cô, chẳng phải là muốn gắn kết tình yêu thương giữa Hồng và mẹ, mà đang muốn xoáy sâu vào nỗi đau trong lòng Hồng, cậu bé đã rất tỉnh táo trả lời không, mặc dù “toan” nói có, và tin tưởng chắc chắn rằng mẹ sẽ quay về.

Nhưng không dừng lại ở đó, người cô “giọng vẫn ngọt”, ngọt một cách “kịch” vô cùng: “Sao lại không vào? Mợ mày phát tài lắm, có như dạo trước đâu!”, câu hỏi với cái giọng nhấn nhá cao vút, đậm chất mỉa mai. Hồng “im lặng cúi đầu”, “lòng càng thắt lại”, mắt “cay cay”, im lặng ở đây không phải là sự trầm ngâm suy nghĩ một cách đơn giản mà là Hồng đã cảm nhận thấy sự buồn tủi đang bắt đầu len lỏi vào trong lòng mình, sinh sôi nảy nở, bén rễ như thứ cỏ dại mọc hoang.

Sự giả dối nham hiểm của người cô càng trở nên rõ ràng khi thấy người cháu của mình đang buồn tủi mà vẫn đon đả “vỗ vai”, “cười” nói rằng: “Mày dại quá, cứ vào đi, tao chạy cho tiền tàu. Vào mà bắt mợ mày may vá sắm sửa cho và thăm em bé chứ”. Giọng điệu giễu nhại cười cợt trên nỗi đau của cháu mình và nỗi khổ của mẹ Hồng. Tâm trạng của Hồng không dừng lại ở sự buồn tủi nữa mà được bộc lộ ra ngoài bằng những chi tiết rất chân thực, nước mắt Hồng “ròng ròng rớt xuống”, “chan hòa đầm đìa”, và cậu “cười dài trong tiếng khóc” hỏi rằng: “Sao cô biết mợ con có con?”, từng câu từng chữ như vặn xoắn tâm can cả Hồng và người đọc, tiếng cười ấy đầy chua chát đau khổ, Hồng chỉ biết đáp lại người cô bằng câu hỏi đầy bẽn lẽn, nghi hoặc.

Chẳng thể tưởng được người cô ruột khi thấy cháu mình đau đớn, mà lại vẫn “tươi cười kể các chuyện”, với giọng điệu giễu cợt, lấy Hồng và mẹ Hồng ra làm thú vui cho cái trò đùa dai quái ác của mình, để chứng kiến cái cảnh Hồng “nghẹn ứ khóc không ra tiếng”, thì mới hả dạ. Rồi lại làm bộ làm tịch đổi giọng, “nghiêm nghị”, căn dặn Hồng hỏi địa chỉ của mẹ từ chỗ người đàn bà họ nội xa, xúi Hồng viết thư gọi mẹ về. Hồng không khóc nữa, chỉ lặng lẽ im lặng, bỏ ngoài tai những lời mà người cô xấu bụng đang gieo rắc bên tai.

Xuyên suốt cả cuộc đối thoại là một cuộc chiến không cân sức, một bên tấn công bằng đòn ác hiểm, một bên tìm cách chống đỡ, tuy quyết liệt nhưng lộ rõ vẻ đáng thương, tội nghiệp khi phải hứng chịu “đòn roi tinh thần” từ người cô. Mặc dù Hồng hoàn toàn lép vế trong cuộc đối thoại, nhưng tình cảm của Hồng chưa bao giờ bị tác động, Hồng chỉ tin và yêu mẹ, ngoài ra không ai có thể thay thế. Tình yêu ấy lớn đến nỗi Hồng tưởng “Giá những thứ cổ tục đã đày đoạn mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thủy tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết vồ ngay lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi”. Lời độc thoại nội tâm của cậu đã bộc lộ rõ tình cảm thắm thiết, keo sơn mà cậu dành cho người mẹ số khổ, Hồng chẳng mảy may để ý mẹ có con ngoài giá thú với người khác, Hồng chỉ thương mẹ và “căm tức” sao mẹ lại sợ những thành kiến xã hội mà xa rời anh em Hồng. Để thấy được rằng dù mới chỉ 13 tuổi, nhưng Hồng đã có những suy nghĩ rất sâu sắc, đặc biệt là tấm lòng rộng mở, chan hòa yêu thương, lòng bao dung cho người mẹ “non một năm ròng” không có một lá thư, một đồng quà. Tình cảm ấy không được phép “bị những những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến…”, và có lẽ người Hồng đang cực kỳ căm ghét phải là người cô độc ác kia mới đúng.

Vào ngày giỗ đầu cha Hồng, cuối cùng mẹ Hồng cũng xuất hiện, trong mắt Hồng mẹ vừa gần gũi vừa thân quen, vừa mới lạ như thiên thần trong truyện cổ tích, “không còm cõi xơ xác quá” như lời cô, “gương mặt mẹ tươi sáng, với đôi mắt trong và nước da mịn”, “khuôn miệng xinh xắn”, “thơm tho lạ thường”. Hẳn là vì xa cách quá lâu, nỗi nhớ cùng tình yêu thương trong lòng Hồng khiến cậu cảm thấy mẹ mình xinh đẹp đến lạ thường, thấy được sự ấm áp của tình thân tình mẫu tử, thiêng liêng. Lúc này đây Hồng “không mảy may nghĩ ngợi gì hết”, tình mẫu tử đã chiến thắng tất cả, gạt đi mọi lời nói chua cay, thâm độc của người cô, làm Hồng có thêm tự tin, phấn khích bởi ý niệm được gặp mẹ đã trở thành hiện thực.

Về nghệ thuật, đoạn trích với tình huống truyện độc đáo, cao trào cảm xúc. Ở phần đầu nhân vật Hồng bị đẩy vào nỗi ấm ức, buồn tủi đến nghẹn lòng, thì đến phần thứ hai nhân vật lại vỡ òa trong cảm xúc hạnh phúc vì nỗi ấm ức nay đã được giải tỏa. Tình huống truyện độc đáo này đã góp phần làm nổi bật nên tình yêu thương mẹ sâu sắc của nhân vật. Một đặc điểm nghệ thuật nữa là nhân vật được thể hiện sinh động qua ngôn ngữ và cử chỉ, người cô thì thâm hiểm, xảo trá, lời nói rất “kịch”, còn cậu bé Hồng thì nhạy cảm, thận trọng mà sâu sắc. Ngôn ngữ kể chuyện giàu cảm xúc chân thực, đặc điểm của thể loại hồi ký, cảm xúc là cả quá trình trải nghiệm mới có được.
Tác phẩm đã mang lại những giá trị nhân văn thấm đượm tình cảm gia đình, đặc biệt là tình mẫu tử thiêng liêng sâu sắc giữa cậu bé Hồng và người mẹ bất hạnh. Đoạn trích Trong lòng mẹ cũng giúp chúng ta một bài học về bản lĩnh sống kiên cường, mạnh mẽ, lòng kiên định, suy nghĩ sâu sắc, phân biệt được phải trái, tốt xấu thông qua nhân vật Hồng trong tác phẩm.

Bài mẫu 3

Nguyên Hồng sinh năm 1918, mất năm 1982, quê gốc ở thành phố Nam Định. Trước Cách mạng tháng Tám 1945, ông sống chủ yếu ở Hải Phòng, trong một xóm lao động nhỏ nên được tận mắt chứng kiến những cảnh đời cơ cực. Nguyên Hồng là nhà văn của lớp người “dưới đáy” xã hội. Viết về thế giới nhân vật ấy, ông thường bày tỏ niềm yêu thương sâu sắc và thái độ trân trọng những nét đáng quý trong phẩm chất của họ. Văn xuôi Nguyên Hồng giàu chất trữ tình. Đó là tiếng nói chân thành của một trái tim nhạy cảm trước nỗi đau và niềm hạnh phúc bình dị của con người.



Những ngày thơ ấu là tập hổi kí viết về tuổi thơ bất hạnh của chính nhà văn. Tác phẩm gồm 9 chương, lần lượt đăng trên báo từ năm 1938 và được in thành sách năm 1940. Trong lòng mẹ là chương 4. Bằng lời văn chân thực và giàu cảm xúc, tác giả đã kể lại nỗi cay đắng tủi cực về tình yêu thương cháy bỏng đối với mẹ của đứa con sớm mồ côi cha. Thông qua cảnh ngộ éo le và tâm sự đau khổ của chú bé Hồng, tác giả còn cho ta thấy bộ mặt vô cảm lạnh lùng của loại người nhỏ nhen, đố kị đến mức độc ác trong xã hội phong kiến tư sản chỉ trọng đồng tiền. Những thành kiến cổ hủ của đám thị dân tiểu tư sản… đã cố tình cắt đứt tình mẫu tử thiêng liêng.

Đoạn trích này có thể chia làm hai phần, Phần 1 là cuộc đối thoại giữa bà cô cay độc và chú bé Hồng. Ý nghĩ, cảm xúc của chú bé về người mẹ đáng thương. Phần 2 là cuộc gặp gỡ bất ngờ với mẹ và cảm giác vui sướng cực điểm của chú bé Hồng khi được ngồi trong lòng mẹ.

Chú bé Hồng là kết quả của một cuộc hôn nhân gượng ép, không có tình yêu. Người cha lớn tuổi và ốm yếu quanh năm lặng lẽ u uất bên bàn đèn thuốc phiện. Người mẹ trẻ trung, xinh đẹp luôn khao khát yêu thương song đành phải chôn vùi tuổi xuân bên ông chồng nghiện ngập. Gia đình bé Hồng lúc đầu sung túc, đầy đủ về vật chất nhưng lạnh lẽo, thiếu vắng tiếng nói, tiếng cười.

Rồi người cha chết vì bệnh. Người mẹ không chịu nổi sự o ép khắc nghiệt của nhà chồng nên đành bỏ lại con thơ, dứt áo ra đi. Để Hồng phải sống với bà cô nghiệt ngã, thâm hiểm. Như mọi đứa trẻ khác, bé yêu mẹ, thèm được ở bên mẹ nhưng cố giấu kín điều đó trong lòng, chỉ thỉnh thoảng mới hé lộ ra. Vì thế, lòng thương yêu mẹ của bé Hồng lại càng da diết.

Mở đầu đoạn trích, qua giọng kể mộc mạc, tự nhiên, tác giả giúp người đọc hình dung ra cảnh ngộ thương tâm của bé Hồng: Tôi đã bỏ cái khăn tang bằng vải màn ở trên đầu đi rồi. Không phải đoạn tang thầy tồi mà vì tồi mới mua được cái mũ trắng và quấn băng đen. Tiếp theo, nhà văn kể về thời gian xảy ra câu chuyện và hoàn cảnh sống của người mẹ tội nghiệp:

Gần đến ngày giỗ đầu thầy tôi, mẹ tồi ở Thanh Hóa vẫn chưa về. Trong đó nghe đâu mẹ tôi đi bán bóng đèn và những phiên chợ chỉnh còn bán cả vàng hương nữa. Tôi nói “nghe đâu” vì tôi thấy người ta bắn tin rằng mẹ và em tôi xoay ra sống bằng cách đó.

Câu chuyện đã được khơi nguồn. Nhân vật bà cô xuất hiện và tâm địa độc ác của bà ta càng về sau càng lộ rõ. Bà ta cố tình nói cho bé Hồng biết cảnh ngộ thảm thương của mẹ cậu để rồi cười cợt, nhạo báng, thoả mãn trên nỗi đau của người khác:
Một hôm, cô tôi gọi tôi đến bên cười hỏi:

–  Hồng! Mày có muốn vào Thanh Hóa chơi với mẹ mày không?

Nụ cười giả tạo của bà cô chứa đựng ác ý rõ ràng. Nó như một mũi dao nhọn cố tình xoáy vào trái tim non nớt đang rớm máu của đứa cháu vừa mới mồ côi cha, lại phải chịu cảnh xa lìa mẹ. Lẽ ra, bé Hồng sẽ trả lời rằng muốn vì bé đang thiếu thốn tình mẫu tử, nhưng vốn nhạy cảm, bé lập tức nhận ra những ý nghĩa cay độc trong giọng nói và trên nét mặt khi cười rất kịch của người cô. Vì thế, bé cúi đầu không đáp.

Không thể để tình thương yêu và lòng kính mến mẹ của mình bị những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến, bé Hồng đã trả lời: Không! Cháu không muốn vào. Cuối năm thế nào mẹ cháu cũng về. Cuộc đối thoại tưởng chừng sẽ chấm dứt sau lời đáp có vẻ bất cần mà thực ra đầy suy nghĩ của đứa cháu nhỏ, nhưng bà cô thâm hiểm nào đã chịu buông tha.

Bà ta hỏi dồn, giọng vẫn ngọt nhạt: Sao lại không vào? Mẹ mày phát tài lắm, có như dạo trước đâu. Cùng với giọng nói cố tình làm ra vẻ tử tế nhưng đầy mỉa mai, châm chọc là hai con mắt long lanh nhìn chằm chặp vào đứa cháu mồ côi. Rõ ràng, bà ta muốn lôi kéo cậu bé Hồng vào một trò chơi độc ác đã toan tính sẵn. Mặc dù chú bé phản ứng bằng cách im lặng cúi đầu và khóe mắt đã cay cay, nhưng bà cô vẫn tiếp tục tấn công. Từ vẻ mặt đến lời nói, hành động của bà ta đểu toát ra vẻ giả dối và độc ác: Cô tôi liền vỗ vai tôi cười mà nói rằng: Mày dại quá, cứ vào đi, tao chạy cho tiền tàu. Vào mà bắt mẹ mày may vá sắm sửa cho và thăm em bé chứ. Đến đây, bà ta không cần che đậy ác ý nữa mà còn tỏ rõ thái độ giễu cợt và nhục mạ. Quả là đau đớn khi vết thương lòng của đứa cháu lại bị chính cô ruột của mình săm soi, hành hạ: Hai tiếng “em bé” mà cô tôi ngân dài ra thật ngọt, thật rõ, quả nhiên đã xoắn chặt lấy tâm can tôi như ý cô tôi muốn. Nhân vật bà cô tàn nhẫn đến mức lạnh lùng, vô nhân đạo đối với đứa cháu đáng thương.

Cho đến khi bé Hồng phẫn uất, oà lên khóc nức nở, bà cô vẫn cố tình hành hạ bằng những câu chuyện bịa đặt về hoàn cảnh bi đát của người mẹ nơi đất khách quê người. Đối lập với tâm trạng đau đớn, xót xa như bị gai cào, muối xát của đứa cháu là sự vô cảm đáng sợ của người cô: Cô tôi vẫn cứ tươi cười kể các câu chuyện cho tôi nghe. Tình cảnh túng quẫn, hình dáng gầy guộc, rách rưới của mẹ bé Hồng được bà cô thêu dệt, miêu tả tỉ mỉ với vẻ thích thú rõ ràng.

Cử chỉ vỗ vai, nhìn vào mặt đứa cháu rồi đổi giọng làm ra vẻ nghiêm nghị của bà cô chỉ là sự thay đổi cách thức tấn công. Bà ta tung ra miếng đòn hiểm cuối cùng. Khi thấy đứa cháu tức tưởi, phẫn uất đến cực độ thì bà ta lại giả vờ hạ giọng, tỏ vẻ ngậm ngùi, thương xót người anh đã mất. Đến đây, bản chất độc ác, giả dối, thâm hiểm và trơ trẽn của nhân vật bà cô đã được phơi bày toàn bộ. Tác giả muốn thông qua hình ảnh ấy để tố cáo hạng người tàn nhẫn, coi nhẹ tình máu mủ rụột rà trong xã hội thực dân phong kiến lúc bấy giờ.

Đối lập với ác cảm ghê gớm của bà cô là tình yêu thương mãnh liệt của chú bé Hồng dành cho người mẹ đáng thương. Nhận ra lòng dạ thâm độc của bà cô, bé Hồng càng thêm yêu quý mẹ. Diễn biến tâm trạng bé Hồng được nhà văn miêu tả theo diễn biến câu chuyện giữa hai cô cháu.

Nghe bà cô hỏi, trong kí ức bé Hồng vụt hiện lên vẻ mặt rầu rầu và hiền từ của mẹ. Tất cả họ hàng bên nội có thể ruồng rẫy mẹ, kết tội mẹ, thóa mạ mẹ… nhưng với bé Hồng, mẹ vẫn là người mẹ yêu quý mà bé Hồng ra sức bênh vực và bảo vệ. Bé Hồng còn nhỏ lắm nên trước những lời kết tội mẹ mình, bé chỉ phản ứng bằng cử chỉ im lặng, cúi đầu mà lòng thắt lại, khóe mất cay cay. Bé nhận ra ngay những ý nghĩa cay độc trong giọng nói và trên nét mặt của bà cô. Bé không muốn tình thương yêu và lòng kính mến mẹ của mình bị những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến.

Đến khi mục đích mỉa mai, nhục mạ của bà cô đã phơi bày trắng trợn thì bé không nén nổi uất ức và oà lên khóc: Nước mắt tôi đã ròng ròng rớt xuống hai bên mép rối chan hòa đầm đìa ở cằm và ở cổ. Bé khóc vì những lời cạnh khóe độc ác mà bà cô cứ cố ý nhắc đi nhắc lại. Bé khóc vì căm tức những thành kiến bất công của người đời đối với người mẹ tội nghiệp. Bé khóc vì thương xót người mẹ khốn khổ sợ dư luận chê cười nên phải lìa con, tha phương cầu thực và trốn tránh tìm nơi sinh nở.

Hình ảnh cậu bé cười dài trong tiếng khóc thể hiện tâm trạng đau đớn cực điểm:

Nhưng không phải vì thấy mẹ tôi chưa đoạn tang thầy tôi mà đã chùa đẻ vói người khác mà tôi có những cảm giác đau đớn ấy. Chỉ vì tồi thương mẹ tồi và căm tức sao mẹ tôi lại vì sợ hãi những thành kiến tàn ác mà xa lìa anh em tôi, để sinh nở một cách giấu giếm…

Những hình ảnh và động từ trong đoạn văn trên có sức gợi tả, gợi cảm rất lớn. Lúc này, tình thương mẹ của bé Hồng trỗi dậy mãnh liệt hơn bao giờ hết. Tình thương ấy đã biến thành sự phản kháng quyết liệt: Cô tồi chưa dứt câu, cổ họng tồi đã nghẹn ứ khóc không ra tiếng. Giá những cổ tục đã đày đoạ mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thủy tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết vồ ngay lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi.

Trong tâm khảm bé Hồng lúc nào cũng in sâu hình bóng mẹ. Một buổi chiều, lúc tan trường, thoáng thấy người ngồi trên xe kéo giống mẹ mình, bé Hồng liền đuổi theo, bối rối gọi. Đó là tiếng gọi bật ra từ trái tỉm thương nhớ mẹ không nguôi của chú bé tội nghiệp.

Tác giả đã miêu tả hàng loạt cử chỉ thể hiện niềm vui sướng của bé Hồng khi gặp mẹ. Vì chạy đuổi theo mẹ mà bé thở hồng hộc, trán đẫm mồ hôi. Đến khi trèo được lên xe với mẹ thì mừng đến nỗi ríu cả chân lại. Mẹ vừa kéo tay, xoa đầu hỏi chuyện thì bé đã òa lên khóc rồi cứ thế nức nở. Tiếng khóc trút bỏ bao nỗi,tủi cực, uất ức trong những ngày xa mẹ. Tiếng khóc sung sướng được gặp lại người mẹ thương yêu. Tiếng khóc của niềm khát khao tột độ tình mẫu tử.

Nước mắt của bé Hồng lúc này khác hẳn nước mắt uất ức, căm giận khi trả lởi bà cô độc ác. Đây là những giọt nước mắt dỗi hờn mà hạnh phúc, tức tưởi mà mãn nguyện.

Cảnh hai mẹ con bé Hồng gặp nhau được tả bằng ngòi bút trữ tình đẫm nước mắt. Nhà văn đã vẽ nên bức tranh bằng ngôn ngữ về một thế giới của tình thương yêu đang bừng nở, hổi sình, tràn đầy những kỉ niệm dịu dàng và ấm áp tình mẫu tử… Cậu bé Hồng như bồng bềnh trôi trong cảm giác vui sướng, rạo rực. Những lời nói cay độc của bà cô, những tủi cực chất chồng trong thời gian xa mẹ đã bị nhấn chìm giữa niềm hạnh phúc đang dâng tràn.
Cảm giác sung sướng cực điểm của đứa con khi được ôm ấp trong lòng mẹ đã được Nguyên Hồng diễn tả bằng cảm hứng say mê cùng những rung động tinh tế lạ thường.

Trong lòng mẹ, bé Hồng nhận ra rằng cảm giác ấm áp thiếu vắng bao lâu nay giờ đây lại mơn man khắp cả da thịt. Đó là những phút giây không thể nào quên của bé Hồng. Bé nhận ra hơi quần áo của mẹ, hơi thở của mẹ lúc đó thơm tho lạ thường. Bé nhận ra gương mặt mẹ vẫn tươi sáng, mắt trong, da mịn, má hồng, vẫn đẹp như thuở nào. Bé cũng nhận ra người mẹ có một êm dịu vô cùng… Tất cả những cảm giác đó, những ý nghĩ đó chỉ có được khi đứa con hết lòng yêu thương mẹ.

Được gặp mẹ là niềm hạnh phúc lớn lao, là niềm vui khôn xiết. Được sà vào lòng mẹ, bé Hồng mừng đến nỗi quên hết mọi thứ trên đời. Những lời thăm hỏi giữa hai mẹ con chỉ còn là một chuỗi âm thanh hạnh phúc, bé Hồng không thể nhớ đó là những câu gì, chuyện gì. Bao trùm tâm trí bé là nỗi vui sướng khôn xiết. Phải thương nhớ mẹ, yêu quý mẹ, thèm khát được gần mẹ đến chừng nào thì bé Hồng mới cảm thấy sung sướng tột đỉnh khi được ôm ấp trong vòng tay dịu hiền của mẹ sau bao ngày xa cách.

Tình thương yêu mẹ là nét nổi bật trong tâm hồn bé Hồng. Tình thương mẹ đã giúp bé Hồng có cách nhìn xác thực về con người và cuộc đời. Cho dù cảnh ngộ có éo le đốn mấy thì tình mẫu tử thiêng liêng vẫn không thể phai mờ. Chúng ta càng thêm thông cảm và quý mến bé Hồng, từ đó càng trân trọng tình mẫu tử.

Trong lòng mẹ là một đoạn văn có tính chất hồi kí mà âm hưởng trữ tình thấm đẫm toàn bộ nội dung câu chuyện. Đặc biệt, đoạn cuối cùng là bài ca cảm động về tình mẫu tử thiêng liêng, bất diệt. Dòng cảm xúc chân thành như tuôn chảy dưới ngòi bút tài hoa của Nguyên Hồng. Nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn với khả năng miêu tả tâm lí nhân vật tỉnh tế của ông gây ấn tượng mạnh, làm rung động lòng người. Thấm thìa nỗi khổ của những đứa con xa mẹ, chúng ta mới nhận ra rằng hạnh phúc thay những đứa con được sống trong vòng tay yêu thương, bảo bọc của mẹ hiền.

Kết luận

Hy vọng với hướng dẫn về cách phân tích bình giảng bài Trong lòng mẹ (Trích hồi kí Những ngày thơ ấu — Nguyên Hồng) hay nhất chuẩn và chính xác nhất hiện nay được admin cập nhật bên trên đã giúp ích được cho quý độc giả. Mong các bạn sẽ thích và ủng hộ cho Chamhocbai.com.

Bài viết đã được cập nhật mới nhất vào 02/2024!