Updated at: 17-03-2023 - By: Thầy Vũ Xuân Anh

Admin Chăm Học Bài hôm nay sẽ hướng dẫn các bạn cách “Soạn bài Viết bài làm số 6: Văn thuyết minh văn học” chuẩn nhất 05/2024.

Dàn ý 1:  Soạn bài Viết bài làm số 6: Văn thuyết minh văn học 

a. Mở bài

– Giới thiệu tác gia Nguyễn Du: là đại thi hào dân tộc, là danh nhân văn hóa thế giới.

– Giới thiệu về Truyện Kiều: là kiệt tác của Nguyễn Du, là tác phẩm kinh điển của văn học Việt Nam và được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới.

b. Thân bài

a) Giới thiệu về Nguyễn Du:

– Cuộc đời:

+ Tên, hiệu, năm sinh năm mất: tên chữ là Tố Như, tên hiệu là Thanh Hiên, sinh năm Ất Dậu (1765), mất năm Canh Thìn (1820).

+ Quê hương: quê cha ở Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; quê mẹ ở Bắc Ninh, nhưng ông lại được sinh ra ở Thăng Long. Nhờ đó, Nguyễn Du dễ dàng tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn hóa.

+ Gia đình: đại quý tộc, nhiều đời làm quan to, có truyền thống làm thơ văn và say mê ca kỹ.

+ Thời đại: sinh ra và lớn lên trong thời kỳ lịch sử đầy biến động dữ dội của xã hội phong kiến.

+ Cuộc đời: đầy bi kịch, Nguyễn Du sớm mồ côi cả cha lẫn mẹ, phải ở với anh trai là Nguyễn Khản. Gia đình tan tác, bản thân ông cũng đã từng lưu lạc “mười năm gió bụi “ở quê vợ Thái Bình. Nhưng chính những cơ cực, vất vả đó đã hun đúc cho ông vốn sống quý giá, và sự am hiểu sâu sắc vốn văn hóa dân gian.

+ Nguyễn Du làm quan dưới hai triều Lê và Nguyễn. Ông là vị quan thanh liêm, được nhân dân tin yêu, quý trọng.

– Sự nghiệp văn học đồ sộ với những kiệt tác ở nhiều thể loại:

+ Các tác phẩm văn học của Nguyễn Du: thơ chữ Hán, Nguyễn Du có 3 tập thơ (Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục). Thơ chữ Nôm, Nguyễn Du có hai kiệt tác Truyện Kiều và Văn tế thập loại chúng sinh.

+ Nội dung:

> Thơ văn Nguyễn Du có giá trị hiện thực sâu sắc, phản ánh chân thực cuộc đời cơ cực của ông nói riêng, và xã hội đen tối, bất công nói chung.

> Tác phẩm của Nguyễn Du chứa chan tinh thần nhân đạo – một chủ nghĩa nhân đạo thống thiết, luôn hướng > tới đồng cảm, bênh vực, ngợi ca và đòi quyền sống cho con người, đặc biệt là người phụ nữ tài hoa mà bạc mệnh.

+ Nghệ thuật:

> Về thể loại: Nguyễn Du đã đưa hai thể thơ của truyền thống dân tộc đạt đến trình độ điêu luyện và mẫu mực cổ điển. Nguyễn Du đã tiểu thuyết hóa thể loại truyện Nôm, với điểm nhìn trần thuật từ bên trong nhân vật, và nghệ thuật miêu tả tâm lý tinh tế, sâu sắc.

> Về ngôn ngữ: Nguyễn Du đã có đóng góp to lớn, làm cho ngôn ngữ Tiếng Việt trở nên trong sáng, tinh tế và giàu có.

=> Nguyễn Du đã có những đóng góp to lớn, thúc đẩy tiến trình phát triển của văn học Việt Nam.

b) Giới thiệu về Truyện Kiều

– Tên gọi: Đoạn trường tân thanh (Tiếng kêu mới đứt ruột).

– Dung lượng: 3254 câu thơ lục bát.

– Nguồn gốc: Truyện Kiều được sáng tác dựa theo cốt truyện Kim Vân Kiều truyện – tiểu thuyết chương hồi của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc). Nguyễn Du đã “hoán cốt đoạt thai” tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân, và đem lại cho Truyện Kiều những sáng tạo mới mẻ cả về nội dung và nghệ thuật.

– Thể loại: truyện Nôm bác học.

– Giá trị tư tưởng:

+ Thể hiện khát vọng về tình yêu tự do và mơ ước công lý.

+ Là tiếng kêu thương đến đứt ruột cho thân phận con người, đặc biệt là nữ tài trong xã hội phong kiến.

+ Là bản cáo trạng đanh thép tội ác của các thế lực đen tối trong xã hôi xưa. Nguyễn Du phê phán mạnh mẽ sự “lên ngôi” của thế lực đồng tiền.

+ Là bức chân dung tinh thần tự họa của Nguyễn Du với “con tim thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời”, trái tim chan chứa tình yêu thương con người.

– Giá trị nghệ thuật:

+ Nghệ thuật xây dựng nhân vật.

+ Nghệ thuật tự sự mới mẻ.

+ Thể loại.

+ Ngôn ngữ trong sáng, điêu luyện, giàu sức gợi cảm, ẩn dụ, điển cố, …

+ Giọng điệu cảm thương rất phù hợp với chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du.

c. Kết bài

– Khẳng định tấm lòng nhân đạo, tài năng của Nguyễn Du và sức sống bất diệt của Truyện Kiều.

Video hướng dẫn giải

Dàn ý 2:  Soạn bài Viết bài làm số 6: Văn thuyết minh văn học 

1. Mở bài

– Giới thiệu khái quát về tác phẩm đó (tác giả, thời gian, hoàn cảnh sáng tác, ý nghĩa chính của nó).

2. Thân bài

– Giới thiệu về tác giả của tác phẩm:

+ Nên nói những điểm chính liên quan đến tác phẩm, như tiểu sử …

+ Hoàn cảnh tác giả sáng tác nên tác phẩm đó.

– Giới thiệu về tác phẩm:

+ Nó nằm trong một tập truyện nào đó, thời gian ra đời của nó gắn liền với cuộc đời tác giả.

+ Kết cấu của tác phẩm và tóm tắt sơ lược về tác phẩm.

+ Nói về các nhân vật có trong tác phẩm (nếu có).

+ Về tính cách và điều mà tác giả muốn gửi gắm qua nhân vật.

+ Nội dung và ý nghĩa chính của tác phẩm đó.

+ Những chi tiết tiêu biểu và những hình ảnh làm nên giá trị của tác phẩm đó.

+ Nghệ thuật của tác phẩm đó.

+ Điều mà tác giả gửi gắm thông qua tác phẩm.

+ Điều mà em cảm nhận và nhận thấy khi được học/ đọc được tác phẩm đó.

+ …

3. Kết bài

– Nhận xét, đánh giá về tác phẩm.

– Vị trí của tác phẩm trong nền văn học.

Dàn ý 3:  Soạn bài Viết bài làm số 6: Văn thuyết minh văn học 

Mở bài:

– Giới thiệu về thể loại

Thân bài:

– Khái niệm về thể loại

– Đặc điểm, quy định riêng của thể loại

– Ưu và nhược điểm của thể loại

– Những tác phẩm tiêu biểu cho thể loại

– Gía trị, ý nghĩa của thể loại trong đời sống văn học

Kết bài:

– Đánh giá về thể loại.

Dàn ý 4:  Soạn bài Viết bài làm số 6: Văn thuyết minh văn học 

a. Mở bài:

– Giới thiệu khái quát chung về Trương Hán Siêu và bài Phú sông Bạch Đằng (Trương Hán Siêu là một vị tướng, là người giỏi văn chương. Phú sông Bạch Đằng là khúc tráng ca trong dòng thơ văn Bạch Đằng).

b. Thân bài:

Giới thiệu chi tiết theo hai phần chính:

– Phần thứ nhất: Giới thiệu về Trương Hán Siêu:

+ Tiểu sử, cuộc đời và con người.

+ Sự nghiệp thơ văn.

– Phần thứ hai: Giới thiệu về bài Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu:

+ Thể phú.

+ Hoàn cảnh ra đời của bài Phú sông Bạch Đằng.

+ Nội dung tư tưởng và giá trị nhiều mặt của bài Phú sông Bạch Đằng,

c. Kết bài:

– Nhận xét, đánh giá về vị trí, giá trị, ảnh hưởng của tác giả Trương Hán Siêu và tác phẩm Phú sông Bạch Đằng (tác giả được lưu danh sử sách, tác phẩm sống mãi cùng non sông đất nước).

BÀI THAM KHẢO SỐ 1:

Tản Đà và bài thơ “Thề Non Nước”

1. Tản Đà tên khai sinh là Nguyễn Khắc Hiếu (1889 – 1939). Ông sinh ở làng Khê Thượng, bên núi Tản sông Đà, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây (nay là xã Sơn Đà, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Nội), nhưng gốc là dòng họ Nguyễn danh tiếng triều Hậu Lê, ở làng Kim Lũ (làng Lủ), huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội. Tản Đà theo nghiệp khoa cử, nhưng thi không đỗ. Kịp với đẩy đưa của thời thế, ông quay sang làm thơ viết văn đăng báo “Nôm na phá nghiệp kiếp ăn xoàng”. Tản Đà là “người thứ nhất có can đảm làm thi sĩ” (Xuân Diệu, 1939), và cũng là thi sĩ đầu tiên dám lấy thi ca làm nghề nghiệp, và cam sống chết với nghề. Mà có lẽ, như vậy mới đúng với cốt cách Tản Đà, vì chỉ cái cốt cách ấy thôi đã “chính là cái tác phẩm tuyệt xảo, một bài thơ hay nhất” (Lưu Trọng Lư, 1939). Song, đời ông vui ít buồn nhiều, càng về cuối càng chật vật. Có điều, đáng quý là, trước sau Tản Đà vẫn giữ được mình trong sạch.

Ồng viết và thành công ở nhiều thể loại, nhưng làm nên một Tản Đà danh tiếng, trước hết là thơ. Những tác phẩm chính là: Khối tình con (thơ, ba tập: 1916, 1918, 1932), Còn chơi (tập thơ, 1921), Thơ Tản Đà (tập thơ, 1925), Nhàn tưởng (kiểu thơ văn xuôi, 1928), Giấc mộng con (truyện giả tưởng, hai tập: 1917, 1927 – 1928), Giấc mộng lớn (tự truyện kiểu hồi kí, 1929), Thề non nước (tập truyện, 1932, Tản Đà văn tập (tập hợp thơ lẫn văn xuôi, 1932)… “Sinh vào lúc (…) thơ cổ tàn và thơ kim đang phôi thai” (Xuân Diệu, 1939), nhà thơ Tản Đà, một mặt là đại biểu xuất sắc nhất của thơ ca theo lối truyền thống hồi đầu thế kỉ XX; nhưng mặt khác, cũng ở Tản Đà đã xuất hiện nhiều dấu hiệu mới lạ của thơ – nhất là về một cái tôi lãng mạn đang ấp ủ, báo hiệu chỉ nay mai nó sẽ làm đứt tung cái chật chội lề luật của thơ lối cũ… Tản Đà chính là cầu nối giữa hai thời đại văn học dân tộc: từ trung đại sang hiện đại; hoặc nói như Hoài Thanh (1941), Tản Đà là “người của hai thế kỉ”. Trên văn đàn công khai bị thực dân Pháp kiểm duyệt, thơ văn Tản Đà vẫn ẩn hiện một tấm lòng thắm thiết với đất nước, nhân dân – đó lại là bình diện đáng quý khác mà hồn thơ, đời thơ của nhà thơ núi Tản sông Đà gửi lại.

2. Bài thơ Thề non nước ban đầu có 12 câu (dòng) lục bát, được làm vào đầu năm 1920, kết quả chuyến đi đầu tiên của nhà thơ theo chiều dài đất nước. Đến 1922, ông sửa lại và viết thêm 10 câu để đưa vào truyện ngắn cùng tên, làm một tình tiết truyện, về sau, khi công bố bài thơ như một tác phẩm độc lập (1925, 1938), Tản Đà lấy lại hầu như nguyên vẹn bài thơ trong truyện. Nước – non là hình tượng thơ nhiều tầng nghĩa, và Thề non nước là bài thơ nhiều tầng ý nghĩa. Có non nước – thiên nhiên với chuyện vịnh cảnh (cảnh mà nhà thơ gặp trong chuyến đi dài; và cảnh trong bức tranh của truyện); có non nước – tình yêu đã thành giọng điệu riêng khó lẫn của thơ Tản Đà (giữa Tản Đà với “nữ sĩ” nào đó, như nhà thơ thổ lộ trong thư cho bạn; và giữa Vân Anh với ông khách, hai nhân vật truyện); và sâu kín bên trong chính là nước non – Tổ quốc với tình cảm yêu nước của nhà thơ, dẫu bóng gió nhưng không kém thắm thiết chân thành.

(Văn học 11 – NXB Giáo Dục 2000)

Nguyễn Công Trứ và bài thơ “Bài ca ngất ngưởng”

Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858) người làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông xuất thân trong một gia đình quan lại quen nề nếp nho phong. Cha là tri phủ Nguyễn Công Tấn, từng xướng nghĩa phò vua Lê chống lại phong trào Tây Sơn. Nguyễn Công Trứ học hành cần cù, say mê và mặc dầu thi cử lận đận, nhiều lần bị đánh hỏng, ông vẫn theo đuổi khoa cử đến tận năm 42 tuổi mới đỗ được giải nguyên. Sau đó, Nguyễn Công Trứ là một bề tôi trung thành của nhà Nguyễn. Cuộc đời làm quan lên xuống đảo điên: khi làm đến thị lang bộ Hình và đại tướng, lúc bị cách tuột làm lính thú ở biên thùy, nhưng bao giờ Nguyễn Công Trứ cũng năng nổ thi hành chức trách, nhiều lần tham gia đánh dẹp nông dân khởi nghĩa.

Mặt khác, Nguyễn Công Trứ tiếp thu được những yếu tố tích cực của nhà nho chân chính: yêu nước, thương dân. Nguyễn Công Trứ nổi tiếng thanh liêm khi làm quan. Trong việc khai khẩn ruộng đất, chiêu mộ dân lưu vong để ổn định, củng cố trật tự phong kiến đương thời. Nguyễn Công Trứ cũng đã đem lại lợi ích cho nhân dân các vùng Kim Sơn, Tiền Hải. Ngày nay, ở những nơi đó vẫn còn nhiều đền thờ khẳng định công ơn của Nguyễn Công Trứ. Năm 1858, Nguyễn Công Trứ đã 80 tuổi, khi tiếng súng xâm lược của thực dân Pháp bùng nổ, ông vẫn dâng sớ xin cầm quân đánh giặc (nhưng không được chấp nhận vì đã quá già yếu). Cũng năm đó, ông mất.

Nguyễn Công Trứ còn để lại khoảng trên 50 bài thơ, trên 60 bài ca trù và một bài phú nổi tiếng Hàn nho phong vị phú, đều viết bằng chữ Nôm. Ngoài ra, còn có một số bài thơ chữ Hán, một số câu đối Nôm. Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát là hai thi sĩ nổi tiếng nhất của nửa đầu thế kỉ XIX.

Bài ca ngất ngưởng là tác phẩm kiệt xuất của Nguyễn Công Trứ, được làm vào sau năm 1848 là năm ông cáo quan về hưu. Bài thơ làm theo thể ca trù, một thể thơ vận luật tương đối tự do, phóng khoáng kết hợp song thất lục bát, lục bát với kiểu nói lối của hát chèo.

(Văn học 11 – NXB Giáo Dục 2000)

BÀI THAM KHẢO SỐ 2: THỂ PHÚ

Phú là một thể văn có vần hoặc xen lẫn văn vần và văn xuôi của Trung Quốc và Việt Nam để tả phong cảnh, kể sự việc, bàn chuyện đời… Trong ba loại phú, tỉ, hứng thì phú là phô diễn, là miêu tả trực tiếp chứ không qua so sánh, liên tưởng như tỉ, hứng. Kinh Thi viết: “Phú giả trực trần kì sự” (phú là phô bày thẳng sự thực).

Phú có thể chia làm hai lối: Phú cổ thể (thể cũ) là thể phú có trước đời nhà Đường, có vần mà không có đối, hoặc như một bài ca thật dài, hoặc như một bài văn xuôi mà có vần, lối sau này gọi là lối phú lưu thủy (nước chảy), như bài Bạch Đằng giang phú. Còn phú cận thể (hay phú Đường luật hoặc Đường phú) là thể phú đặt ra từ thời nhà Đường, có vần, có đối, có theo luật bằng trắc. Lối này phải theo quy củ nhất định và là lối phú thông dụng nhất.

Phú cận thể có thể gieo vần theo nhiều lối khác nhau như: độc vận (đầu cuối cùng một vần) hoặc liên vận (một bài dùng nhiều vần); hạn vận (ra sẵn một câu làm vần, phải theo thứ tự các chữ trong câu ấy mà gieo) hoặc phóng vận (tùy ý gieo vần).

Phú cận thể bao giờ cũng đặt câu gồm hai vế đối nhau, vần nằm ở cuối vế dưới. Có mấy loại câu: câu thứ tự (mỗi vế 4 chữ), câu bát tự (mỗi vế 8 chữ), câu song quan (hai cửa, mỗi vế gồm từ 5 đến 9 chữ), câu cách cú (mỗi vế chia làm hai đoạn, một đoạn ngắn, một đoạn dài), câu hạc tất (gối hạc, mỗi vế gồm từ ba đoạn trở lên, đoạn giữa thường ngắn, xen vào các đoạn kia như cái đầu gối giữa hai ông chân con hạc).

Về luật bằng trắc thì phú cận thể yêu cầu các chữ cuối các vế trong câu phải đối nhau: bằng đối với trắc hoặc trắc đối với bằng.

Về bố cục, một bài phú cận thể thường có sáu phần: lung (mở đầu, nói bao quát toàn bài), biện nguyên (nói gốc tích, ý nghĩa của đầu bài), thích thực (giải thích, phân tích ý nghĩa của đầu bài), phu diễn (trình bày, dẫn chứng minh họa cho rõ phần giải thích, phân tích), nghị luận (bình luận, nhận định ý nghĩa của đầu bài), kết (thắt lại, kết thúc).

BÀI THAM KHẢO SỐ 3: 

Trong dòng văn học ca ngợi truyền thống yêu nước xuyên suốt lịch sử văn học Việt Nam, “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi được đánh giá là ánh “thiên cổ hùng văn”, là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc, được các thế hệ người Việt luôn yêu thích, tự hào.

“Bình Ngô đại cáo” được Nguyễn Trãi thừa lệnh Lê Lợi viết vào khoảng đầu năm 1428, khi cuộc kháng chiến chống Minh xâm lược của nghĩa quân Lam Sơn đã thắng lợi, quân Minh buộc phải kí hòa ước, rút quân về nước, nước ta bảo toàn được nền độc lập tự chủ, hòa bình. Nguyễn Trãi -62 là một anh hùng dân tộc, là người toàn tài hiếm có trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam. Ông có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Minh đồng thời cũng là nhà thơ trữ tình sâu sắc, nhà văn chính luận kiệt xuất, là cây đại thụ đầu tiên của văn học trung đại Việt Nam.

Tác phẩm “Bình Ngô đại cáo” được Nguyễn Trãi viết theo thể cáo, một thể văn có nguồn gốc từ Trung Hoa, viết bằng chữ Hán, thuộc thể văn hùng biện chính luận, có nội dung thông báo một chính sách, một sự kiện trọng đại liên quan đến quốc gia dân tộc, công báo trước toàn dân. Nhan đề tác phẩm có ‎ Ý nghĩa là bài cáo trọng đại tuyên bố về việc dẹp yên giặc Ngô-một tên gọi hàm ý khinh bỉ căm thù giặc Minh xâm lược. Bài cáo có bố cục chặt chẽ mạch lạc, viết theo lối biền ngẫu, vận dụng thể tứ lục, sử dụng hệ thống hình tượng sinh động, gợi cảm.

Bài cáo gồm bốn đoạn. Đoạn đầu nêu cao luận đề chính nghĩa của cuộc kháng chiến, đó là tư tưởng nhân nghĩa kết hợp với độc lập dân tộc: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân-Quân điếu phạt trước lo trừ bạo” và “Như nước Đại Việt ta từ trước-Vốn xưng nền văn hiến đã lâu”.

Đoạn thứ hai của bài cáo đã vạch trần, tố cáo tội ác dã man của giặc Minh xâm lược. Đoạn văn là bản cáo trạng đanh thép, tố cáo giặc Minh ở các điểm: âm mưu cướp nước, chủ trương cai trị phản nhân đạo, hành động tàn sát tàn bạo. Đồng thời, đoạn văn cũng nêu bật nỗi thống khổ, khốn cùng của nhân dân, dân tộc ta dưới ách thống trị của kẻ thù: “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn-Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”; “Dối trời, lừa dân, đủ muôn nghìn kế-Gây binh kết oán, trải hai mươi năm”. Đoạn văn ngùn ngụt Ý chí căm thù giặc và thống thiết nỗi thương dân lầm than. Đoạn văn thứ ba là đoạn dài nhất của bài cáo, có Ý nghĩa như bản anh hùng ca về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Đoạn văn đã tổng kết lại quá trình khởi nghĩa. Ban đầu cuộc khởi nghĩa gặp nhiều khó khăn, lương thảo, quân sĩ, người tài đều thiếu, nghĩa quân ở vào thế yếu “Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần-Khi Khôi Huyện quân không một đội”, “Tuấn kiệt như sao buổi sớm-Nhân tài như lá mùa thu”, “lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều”…Nhưng nghĩa quân có người lãnh tụ Lê Lợi sáng suốt, bền chí, yêu nước “Ngẫm thù lớn há đội trời chung-Căm giặc nước thề không cùng sống”, biết đoàn kết lòng dân “Sĩ tốt một lòng phụ tử-Hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”, dùng chiến thuật phù hợp nên nghĩa quân Lam Sơn ngày một trưởng thành “Sĩ khí đã hăng, quân thanh càng mạnh”và ngày càng chiến thắng giòn giã, vang dội “Đánh một trận sạch không kình ngạc-Đánh hai trận tan tác chim muông”, giặc Minh thì liên tiếp thất bại, thất bại sau lại càng thảm hại hơn thất bại trước, mỗi tên tướng giặc bại trận lại có vết nhục nhã riêng: kẻ treo cổ tự vẫn, kẻ quỳ gối dâng tờ tạ tội, kẻ bị bêu đầu…Đoạn văn thứ ba của bài cáo cũng ca ngợi lòng nhân đạo, chuộng hòa bình của nhân dân, dân tộc ta, tha sống cho quân giặc đã đầu hàng, lại cấp cho chúng phương tiện, lương thảo về nước. Đoạn cuối của bài cáo đã tuyên bố trịnh trọng về việc kết thúc chiến tranh, khẳng định nền độc lập, hòa bình vững bền của đất nước, thể hiện niềm tin vào tương lai tươi sáng của dân tộc.

Bài cáo có sự kết hợp hài hòa, hiệu quả giữa yếu tố chính luận sắc bén với yếu tố văn chương truyền cảm, kết hợp giữa lí luận chặt chẽ và hình tượng nghệ thuật sinh động. Cảm hứng nổi bật xuyên suốt tác phẩm là cảm hứng anh hùng ca hào hùng sôi nổi, mãnh liệt. Giọng điệu của bài cáo rất đa dạng, khi tự hào về truyền thống vănhóa, anh hùng lâu đời của dân tộc, khi thì căm phẫn sục sôi trước tội ác của kẻ thù, khi thống thiết xót thương trước nỗi đau lầm than của nhân dân, khi lo lắng trước những khó khăn của cuộc kháng chiến, khi hào hùng ngợi ca chiến thắng, khi trịnh trọng tuyên bố độc lập của dân tộc, đất nước.

“Đại cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi là bản anh hùng ca ca ngợi chiến thắng vĩ đại của dân tộc ta thế kỉ XV. Tác phẩm vừa có giá trị lịch sử, vừa có giá trị văn học, không chỉ lưu giữ những sự kiện lịch sử mà còn lưu truyền lòng yêu nước tự hào dân tộc đến các thế hệ người Việt Nam. Mỗi người dân Việt Nam ngày nay đều hào sảng trước những câu văn hùng hồn:

“Như nước Đại Việt ta từ trước,

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

Núi sông bờ cõi đã chia,

Phong tục Bắc Nam cũng khác.

Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập,

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương.

Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,

Song hào kiệt đời nào cũng có…”

BÀI THAM KHẢO SỐ 4:

Nguyễn Du là nhà thơ sống hết mình, tư tưởng, tình cảm, tài năng nghệ thuật của ông xuyên suốt các tác phẩm của ông, xuyên suốt cuộc đời ông và thể hiện rõ nhất qua áng văn chương tuyệt vời là “Truyện Kiều”.

Nguyễn Du sinh ngày 23 tháng 11 năm Ất Dậu, tức ngày 3/1/1765 ở kinh thành Thăng Long trong một gia đình quý tộc lớn. Thân sinh ông là Hoàng Giáp Nguyễn Nghiễm (1708 – 1775), làm quan đến tham tụng (tể tướng) tước Xuân quận công triều Lê. Mẹ ông là bà Trần Thị Tần, quê Kinh Bắc, đẹp nổi tiếng. 13 tuổi lại mồ côi mẹ, ông phải ở với người anh là Nguyễn Khản. Đời sống của người anh tài hoa phong nhã, lớn hơn ông 31 tuổi này rất có ảnh hưởng tới nhà thơ.

Sự thăng tiến trên đường làm quan của Nguyễn Du khá thành đạt. Nhưng ông không màng để tâm đến công danh. Trái tim ông đau xót, buồn thương, phẫn nộ trước “những điều trông thấy” khi sống lưu lạc, gần gũi với tầng lớp dân đen và ngay cả khi sống giữa quan trường. Ông dốc cả máu xương mình vào văn chương, thi ca.

Thơ ông là tiếng nói trong trái tim mình. Đấy là tình cảm sâu sắc của ông đối với một kiếp người lầm lũi cơ hàn, là thái độ bất bình rõ ràng của ông đối với các số phận con người. Xuất thân trong gia đình quý tộc, sống trong không khí văn chương bác học, nhưng ông có cách nói riêng, bình dân, giản dị, dễ hiểu, thấm đượm chất dân ca xứ Nghệ.

Về văn thơ nôm, các sáng tác của ông có thể chia thành 3 giai đoạn. Thời gian sống ở Tiên Điền – Nghi Xuân đến 1802, ông viết “Thác lời trai phường nón Văn tế sống 2 cô gái Trường Lưu”. Đây là 2 bản tình ca thể hiện rất rõ tâm tính của ông, sự hoà biểu tâm hồn tác giả với thiên nhiên, với con người.

Ba tập thơ chữ Hán thì “Thanh hiên thi tập” gồm 78 bài, viết lúc ở Quỳnh Côi và những năm mới về Tiên Điền, là lời trăn trở chốn long đong, là tâm sự, là thái độ của nhà thơ trước cảnh đời loạn lạc. Sau 1809, những sáng tác thơ của ông tập hợp trong tập “Nam Trung Tạp Ngâm” gồm 40 bài đầy cảm hứng, của tâm sự, nỗi niềm u uất.

Truyện Kiều được Nguyễn Du chuyển dịch, sáng tạo từ cuốn tiểu thuyết “Truyện Kim Vân Kiều” của Thanh Tâm Tài Nhân, tên thật là Tử Văn Trường, quê ở huyện Sơn Am, tỉnh Triết Giang, Trung Quốc. Truyện Kiều đã được nhân dân ta đón nhận một cách say sưa, có nhiều lúc đã trở thành vấn đề xã hội, tiêu biểu là cuộc tranh luận xung quanh luận đề “Chánh học và tà thuyết” giữa cụ Nghè Ngô Đức Kế và ông Phạm Quỳnh thu hút rất nhiều người của 2 phía cùng luận chiến.

Không chỉ ảnh hưởng sâu sắc trong tầng lớp thị dân, Truyện Kiều còn được tầng lớp trên say mê đọc, luận. Vua Minh Mạng là người đầu tiên đứng ra chủ trì mở văn đàn ngâm vịnh truyện Kiều và sai các quan ở Hàn Lâm Viện chép lại cho đời sau. Đến đời Tự Đức, nhà vua thường triệu tập các vị khoa bảng trong triều đến viết và vịnh Truyện Kiều ở văn đàn, ở Khu Văn Lâu.

Ngày nay, Truyện Kiều vẫn đang được các nhà xuất bản in với số lượng lớn, được dịch ra rất nhiều thứ tiếng. Các nhà nghiên cứu trên thế giới đánh giá cao Truyện Kiều. Dịch giả người Pháp Rơ-Ne-Crir-Sắc khi dịch Truyện Kiều đã viết bài nghiên cứu dài 96 trang, có đoạn viết: “Kiệt tác của Nguyễn Du có thể so sánh một cách xứng đáng với kiệt tác của bất kỳ quốc gia nào, thời đại nào”. Ông so sánh với văn học Pháp: “Trong tất cả các nền văn chương Pháp không một tác phẩm nào được phổ thông, được toàn dân sùng kính và yêu chuộng bằng quyển truyện này ở Việt Nam”. Và ông kết luận: “Sung sướng thay bậc thi sĩ với một tác phẩm độc nhất vô nhị đã làm rung động và ca vang tất cả tâm hồn của một dân tộc”. Năm 1965 được Hội đồng Hoà bình thế giới chọn làm năm kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du.

Nguyễn Du là nhà thơ sống hết mình, tư tưởng, tình cảm, tài năng nghệ thuật của ông xuyên suốt các tác phẩm của ông, xuyên suốt cuộc đời ông và thể hiện rõ nhất qua áng văn chương tuyệt vời là Truyện Kiều. Đọc Truyện Kiều ta thấy xã hội, thấy đồng tiền và thấy một Nguyễn Du hàm ẩn trong từng chữ, từng ý. Một Nguyễn Du thâm thuý, trải đời, một Nguyễn Du chan chứa nhân ái, hiểu mình, hiểu đời, một Nguyễn Du nóng bỏng khát khao cuộc sống bình yên cho dân tộc, cho nhân dân.

Kết luận

Hy vọng với các giải đáp trên thì mong là quý độc giả đã biết được cách ” Soạn bài Viết bài làm số 6: Văn thuyết minh văn học ” chuẩn và chính xác nhất hiện nay. Các thông tin trên được admin cập nhật cũng như thu thập thông tin từ nhiều nguồn chuẩn xác, hy vọng các bạn sẽ thích và ủng hộ cho Chamhocbai.com.

Bài viết đã được cập nhật mới nhất vào 05/2024!