Updated at: 15-03-2023 - By: Thầy Vũ Xuân Anh

Admin Chăm Học Bài hôm nay sẽ hướng dẫn các bạn cách “soạn đề văn nghị luận” chuẩn nhất 06/2024

Mẫu số 1: Cách soạn đề văn nghị luận chi tiết nhất

 I – KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Yêu cầu của đề văn nghị luận

Khi còn ngồi trên ghế nhà trường, để luyện tập kĩ năng nghị luận, người viết văn nghị luận cần tuân theo những yêu cầu cụ thể. Thông thường, những yêu cầu này được đưa ra dưới dạng các đề văn.

– Yêu cầu cơ bản và quan trọng nhất của một đề văn nghị luận là vấn đề nghị luận (còn gọi là luận đề).

– Tuỳ thuộc vào nội dung do đề văn đặt ra mà người viết lựa chọn và vận dụng các thao tác lập luận cho phù hợp. Khi gặp những đề văn nêu rõ thao tác lập luận như hãy giải thíchhãy chứng minhhãy bình luậnhãy phân tích,… người viết cần lưu ý: Đó chỉ là yêu cầu về thao tác chính cần sử dụng chứ không phải thao tác duy nhất. Không có bài văn nghị luận nào chỉ sử dụng một thao tác lập luận.

– Yêu cầu về nội dung cần bàn luận là yêu cầu bắt buộc mà mỗi đề văn cần phải có. Căn cứ vào tính chất của nội dung ấy, người ta thường chia đề văn nghị luận thành hai loại: đề văn nghị luận chính trị – xã hội và đề văn nghị luận văn học.

2. Tìm hiểu đề văn nghị luận

a) Xác định nội dung trọng tâm cần bàn bạc và làm sáng tỏ

b) Xác định loại đề văn nghị luận và các thao tác lập luận chính sẽ vận dụng trong bài viết

c) Xác định phạm vi tư liệu cần huy động, trích dẫn cho bài viết

II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG

Đọc kĩ các đề văn sau và thực hiện yêu cầu:

(1) Vẻ đẹp trong bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão

(2) Tiếng khóc của Nguyễn Du trong bài thơ Đọc “Tiểu Thanh kí”

1. Xác định nội dung trọng tâm cần bàn bạc và làm sáng tỏ của mỗi đề văn

   Gợi ý:

– Đề (1): Vẻ đẹp nội dung và nghệ thuật của bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão.

– Đề (2): Tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du thể hiện trong bài Đọc “Tiểu Thanh kí”.

2. Xác định thao tác lập luận chính sẽ vận dụng để giải quyết yêu cầu của mỗi đề văn

   Gợi ý:

– Đề (1): Với yêu cầu của đề bài này, cần tập trung vận dụng thao tác phân tích và bình luận. Phân tích những biểu hiện đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, đồng thời kết hợp bình luận để chứng tỏ sự đánh giá, cảm thụ của mình về vẻ đẹp riêng của tác phẩm. Tuy nhiên, cũng có thể vận dụng các thao tác chứng minh hay giải thích sao cho phù hợp. Có thể đưa ra luận điểm khẳng định về vẻ đẹp của lí tưởng cao cả và khí phách anh hùng, sau đó kết hợp phân tích và chứng minh bằng những biểu hiện cụ thể trong bài thơ. Có thể sử dụng thao tác giải thích để làm rõ ý nghĩa của “nợ công danh”, từ đó bình luận về vẻ đẹp đậm chất lí tưởng cao cả và khí phách của bậc anh hùng của nhân vật trữ tình.

– Đề (2): Với yêu cầu về nội dung nghị luận ở đề bài này, cần tập trung vận dụng thao tác giải thích, chứng minh. Giải thích “tiếng khóc” để chỉ ra đó là cách nói hình ảnh về sự cảm thông, tấm lòng tri âm, nói rộng ra là lòng nhân đạo của tác giả đối với bậc tài hoa mệnh bạc. Giải thích về xuất xứ bài thơ, về mối liên hệ giữa bài thơ với Tiểu Thanh kí,… Từ việc giải thích như vậy, người viết từng bước chứng minh bằng những chi tiết, hình ảnh cụ thể của bài thơ: Từ những biểu hiện của nỗi xót thương của nhà thơ tr­ước số phận của Tiểu Thanh ở hai câu đầu, cho đến những cảm nhận về số phận của những kẻ tài hoa bạc mệnh nói chung ở bốn câu giữa, và cuối cùng là nỗi niềm riêng tư­ của tác giả được giãi bày. Cần thiết phải kết hợp sử dụng thao tác bình luận, bình luận về mối đồng cảm, tri âm và thể hiện được những cảm thụ của mình đối với mối cảm thương sâu sắc của tác giả.

3. Xác định phạm vi tư liệu cần huy động, trích dẫn cho mỗi đề văn

   Gợi ý:

Đối với hai đề bài này, phạm vi tư liệu nằm trong hai bài đã học: văn bản tác phẩm và hệ thống các tri thức đã nắm bắt trong quá trình đọc – hiểu. Ngoài ra, có thể huy động thêm những bài viết tham khảo để mở rộng những hiểu biết về đối tượng nghị luận.

Mẫu số 2: Cách soạn đề văn nghị luận đầy đủ nhất

TÌM HIỂU ĐỀ VĂN NGHỊ LUẬN

1. Nội dung và tính chất của đề văn nghị luận:

a. Các đề văn nêu trên được xem là đề bài, đầu bài. Dùng làm đề bài cho bài văn sắp viết được.

b. Căn cứ để xác định các đề trên là đề văn nghị luận:

Tất cả 11 đề trên nêu ra những vấn đề khác nhau nhưng đều bắt nguồn từ cuộc sống xã hội con người.

Tất cả đều là những luận điểm để người viết giải quyết:

Chằng hạn:

– Luận điểm của đề 1: Lối sống giản dị của Bác Hồ.

– Luận điểm của đề 2: Sự giàu đẹp của tiếng Việt.

c. Tính chất của đề có ý nghĩa quan trọng đối với việc làm văn: ngợi ca, phân tích, khuyên nhủ, phản bác…đòi hỏi bài làm phải vận dụng các phương pháp phù hợp.

2. Tìm hiểu đề văn nghị luận:

a. Tìm hiểu đề văn “Chớ nên tự phụ”:

– Đề nêu lên vấn đề: tự phụ là tiêu cực vì vậy không nên tự phụ.

– Đối tượng và phạm vi nghị luận: tính tự phụ của con người, tác hại của tính tự phụ trong cuộc sống.

– Khuynh hướng tư tưởng của đề này là phủ định, phê phán tính tự phụ.

– Đề này đòi hỏi người viết phải: hiểu thế nào là tính tự phụ, biểu hiện của tính tự phụ , phân tích tác hại của tính tự phụ và nhắc nhở, khuyên mọi người chớ nên tự phụ.

b. Trước một đề văn, muốn làm bài tốt, cần xác định đúng vấn đề, phạm vi, tính chất của bài nghị luận để làm bài khỏi bị sai lệch.

Phần II

Video hướng dẫn giải

LẬP Ý CHO BÀI VĂN NGHỊ LUẬN

Cho đề bài: Chớ nên tự phụ

1. Xác định luận điểm: Trong cuộc sống không nên tự phụ – tự phụ gây tai hại lớn.

2. Tìm luận cứ:

– Tự phụ là gì? (là tự cao, tự đại, đề cao mình và coi thường người khác).

– Vì sao chớ nên tự phụ (tự phụ không những có hại cho mình mà cho mọi người khác nữa).

3. Xây dựng lập luận:

– Định nghĩa tính tự phụ

– Tác hại của tính tự phụ

– Đề cao lối sống hòa đồng, khiêm tốn, phê phán thói tự phụ.

Phần III

Video hướng dẫn giải

LUYỆN TẬP

Tìm hiểu đề và lập ý cho đề bài: Sách là người bạn lớn của con người.

* Tìm hiểu đề:

– Vấn đề nghị luận: ý nghĩa to lớn của sách đối với đời sống con người.

– Bàn luận về vấn đề nghị luận:

+, Vai trò của sách đối với đời sống con người.

+, Phân tích tác dụng của sách đối với nhận thức của con người về thế giới xung quanh.

+, Sách là người bạn không thể thiếu trong đời sống mỗi người.

– Thái độ với vấn đề nghị luận: khẳng định ý nghĩa to lớn của sách đối với đời sống con người.

* Lập ý:

– Vì sao lại nói “Sách là người bạn lớn của con người”.

– Ích lợi của sách đối với đời sống con người thể hiện cụ thể ở các phương diện.

– Ích lợi của sách thể hiện trong thực tế. Những sự việc cụ thể cho thấy ích lợi của sách.

– Hành động của mỗi người khi nhận rõ ích lợi to lớn của sách.

Mẫu số 3: Cách soạn đề văn nghị luận hay nhất

Văn nghị luận (tên đầy đủ là văn nghị luận xã hội) là những bài văn bàn về xã hội, chính trị, đời sống nói chung. Do đó, đề bài của dạng văn này rất rộng. Cụ thể, nó bao gồm cả những vấn đề tư tưởng, đạo lý cho đến lối sống. Ngoài ra, một đề văn nghị luận xã hội đôi khi đề cập những câu chuyện nổi bật trong cuộc sống hằng ngày. Hoặc có thể yêu cầu viết về vấn đề thiên nhiên, vấn đề toàn quốc, toàn cầu…

Hiểu đơn giản hơn, văn nghị luận xã hội là dạng văn yêu cầu viết về vấn đề xã hội. Nó khác với văn nghị luận văn học, chỉ viết về tác phẩm, nhà văn… Theo các nhà giáo ưu tú chia sẻ, để viết văn nghị luận xã hội tốt, học sinh cần rèn luyện 2 kỹ năng: chứng minh và giải thích.

Hiện nay, đề văn nghị luận xã hội rất phổ biến. Đây cũng là cách mà các trường, cơ sở giáo dục nói chung đưa ra để kiểm tra kỹ năng sống, vốn sống, mức độ hiểu biết của học sinh. Do đó, yêu cầu người học bên cạnh đọc sách giáo khoa thì cũng cần biết báo chí, đọc tin tức, theo dõi đời sống hằng ngày.

Cách làm bài văn nghị luận đạt điểm cao

Dựa vào khái niệm nêu ở phần 1, chúng ta có thể chia văn nghị luận xã hội thành nhiều dạng đề. Tuy nhiên, tựu trung thì có một số dạng đề cơ bản như sau.

Văn nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống

  • Hiện tượng có tác động tích cực đến suy nghĩ (tiếp sức mùa thi, hiến máu nhân đạo, một câu chuyện đẹp…)
  • Hiện tượng có tác động tiêu cực (bạo lực học đường, tai nạn giao thông, tham nhũng…).
  • Nghị luận về một mẩu tin tức báo chí (hình thức cho một đoạn trích, mẩu tin trên báo…).

Lưu ý với học sinh : Trong 3 loại trên thì hiện nay văn nghị luận xã hội từ một mẩu tin tức báo chí đang phổ biến hơn cả.

Văn nghị luận xã hội về một tư tưởng đạo lý

  • Tư tưởng mang tính nhân văn, đạo đức (lòng dũng cảm, khoan dung, ý chí nghị lực…).
  • Tư tưởng phản nhân văn (ích kỷ, vô cảm, thù hận, dối trá…).
  • Văn nghị luận xã hội về hai mặt tốt xấu trong một vấn đề.
  • Văn nghị luận xã hội về vấn đề có tính chất bàn luận, trao đổi.
  • Văn nghị luận xã hội đặt ra trong mẩu truyện nhỏ hoặc đoạn thơ.

Hướng dẫn các bước làm bài văn nghị luận xã hội

Trong cách làm bài văn nghị luận xã hội thì 2 yêu cầu chứng minh và giải thích rất quan trọng. Do đó, loại văn này thường ít có “cảm xúc dào dạt”, thay vào đó là sự cô động, rõ ràng, rành mạch. Để làm tốt bài văn nghị luận xã hội người học cần thực hiện như các bước hướng dẫn sau.

Đọc kỹ đề khi làm bài văn nghị luận xã hội

  • Muốn làm tốt văn nghị luận xã hội trước hết phải đọc thật kỹ đề bài.
  • Đọc kỹ để biết yêu cầu của đề, phân biệt được tư tưởng đạo lý hay hiện tượng đời sống.
  • Hướng dẫn phương pháp: Đọc kỹ, gạch chân những cụm từ quan trọng. Từ đó để định hướng luận cứ toàn bài.

Cách lập dàn ý làm bài văn nghị luận xã hội

  • Lập dàn ý giúp bài văn chặt chẽ, logic hơn.
  • Lập dàn ý (ngoài giấy nháp) giúp hệ thống các ý, khi viết sẽ mạch lạc, dễ hiểu (cho người viết và người chấm bài).
  • Chủ động được lượng từ cần viết. Tránh được “bệnh” lan man, dài dòng.

Dẫn chứng phù hợp trong cách làm bài văn nghị luận xã hội

Trong cách làm bài văn nghị luận xã hội thì luôn cần dẫn chứng. Do đó người học cần lưu ý như sau.

  • Không lấy những dẫn chứng chung chung (không có người, nội dung, sự việc cụ thể).
  • Dẫn chứng cần người thật, việc thật, sách nào, tờ báo nào, thời gian nào…
  • Đưa dẫn chứng phải thật khéo léo và phù hợp (tuyệt đối không kể lể dài dòng).

Cách làm bài văn nghị luận xã hội chặt chẽ, súc tích

Bài văn nghị luận xã hội phải chặt chẽ, cô động nhất có thể. Cụ thể phải đảm bảo 4 yếu tố sau.

  • Lời văn, câu văn, đoạn văn viết phải cô đúc, ngắn gọn.
  • Lập luận phải chặt chẽ. Câu trước câu sau không chọi ý nhau.
  • Cảm xúc trong sáng, lành mạnh. Không nói cảm xúc như nghị luận văn học.
  • Tạo lối viết song song (có khen, có chê, có đồng ý, có phản biện). Tránh viết kiểu “buông xuôi”, ngợi ca quá mức.

Bài học nhận thức và hành động cần có trong văn nghị luận xã hội

Trong cách làm bài văn nghị luận xã hội, yêu cầu cần nhất chính là rút ra bài học gì cho bản thân. Do đó, người viết cần có:

  • Sau khi giải thích, chứng minh thì cần chốt lại mình học được điều gì.
  • Thông thường bài học phải là những bài học tốt, hướng đến cách sống tử tế hơn.

Độ dài văn nghị luận xã hội cần phù hợp với yêu cầu

Thông thường khi ra đề sẽ có thêm phần yêu cầu bài viết bao nhiêu chữ. Người viết cần tuân thủ đúng yêu cầu này. Tránh viết quá dài, hoặc quá ngắn đều dẫn đến kết quả điểm không cao.

Hướng dẫn cách làm bài văn nghị luận xã hội về tư tưởng đạo lý

Bài văn nghị luận xã hội về tư tưởng đạo lý thường được chọn đề ra đề trong nhiều kỳ thi. Dưới đây là hướng dẫn cách làm bài văn nghị luận xã hội về tư tưởng đạo lý đúng chuẩn nhất.

Cách mở bài văn nghị luận xã hội

  • Giới thiệu khái quát tư tưởng, đạo lý cần viết.
  • Nêu ý chính hoặc câu nói về tư tưởng, đạo lý mà đề bài đưa ra. Điều này có trong phần gạch chân những câu, từ quan trọng ở đề thi.

Cách làm thân bài văn nghị luận xã hội

Cách làm bài văn nghị luận xã hội ở phần thân bài cần có những luận điểm sau.

Luận điểm 1: Giải thích yêu cầu đề

  • Cần giải thích rõ nội dung tư tưởng đạo lý.
  • Giải thích các từ ngữ, thuật ngữ, khái niệm, nghĩa đen, nghĩa bóng.
  •  Rút ra ý nghĩa chung của tư tưởng, đạo lý; quan điểm của tác giả qua câu nói trong đề thi.

Luận điểm 2: Phân tích và chứng minh

  • Các mặt đúng của tư tưởng, đạo lý.
  • Dùng dẫn chứng xảy ra cuộc sống xã hội để chứng minh.
  • Từ đó chỉ ra tầm quan trọng, tác dụng của tư tưởng, đạo lý đối với đời sống xã hội.

Luận điểm 3: Bình luận mở rộng vấn đề

  • Phản biện những biểu hiện sai lệch có liên quan đến tư tưởng, đạo lý.
  • Dẫn chứng minh họa (nên lấy những câu chuyện trong sách, cuộc sống mà nổi bật nhất).
  • Rút ra bài học nhận thức và hành động cho bản thân.

Cách viết kết bài văn nghị luận xã hội

  • Nêu khái quát đánh giá ý nghĩa tư tưởng đạo lý đã viết.
  • Mở ra hướng suy nghĩ mới về vấn đề đó.

Ở trên là cách làm bài văn nghị luận xã hội cơ bản nhất mà mỗi người học cần biết. Ngoài sườn bài này, người học cần nâng cao kỹ năng sống, kỹ năng viết bằng cách đọc sách, báo chí nhiều hơn. Việc có một vốn sống tốt sẽ giúp người học viết văn nghị luận xã hội trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết.

Mẫu dàn ý văn nghị luận xã hội

I – Mở bài

-Phần mở bài cần giới thiệu, dẫn dắt vấn đề và nêu lên được tính cấp thiết của vấn đề cần đưa ra nghị luận.

– Mở ra hướng giải quyết vấn đề

II – Thân bài

1. Thực trạng của vấn đề cần nghị luận.

– Phân tích, chia tách tư tưởng đạo lí thành các khía cạnh để xem xét, đánh giá.

– Dùng lí lẽ, lập luận và dẫn chứng để chứng minh tính đúng đắn, đồng thời bác bỏ những biểu hiện sai lệch.

– Khi bàn luận, đánh giá cần thận trọng, khách quan, có căn cứ vững chắc

2. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên.

– Người viết nên tự đặt ra và trả lời các câu hỏi: Nguyên nhân nào dẫn đến các thực trạng đó? Có thể bổ sung thêm điều gì?

– Người viết cần lật đi lật lại vấn đề, xem xét từ nhiều góc độ, nhiều quan hệ để đánh giá và bổ sung cho hợp lí, chính xác.

– Người viết cần có bản lĩnh, lập trường tư tưởng vững vàng, cần có suy nghĩ riêng, dám đưa ra chính kiến riêng, miễn là có lí, có tinh thần xây dựng và phù hợp đạo lí.

3. Hậu quả hoặc kết quả của bài văn nghị luận.

Nêu rõ thực trạng các biểu hiện và ảnh hưởng của hiện tượng đời sống; thực tế vấn đề đang diễn ra như thế nào, gây hậu quả ra sao đối với đời sống, thái độ của xã hội đối với vấn đề. Nếu có được dẫn chứng từ thực tế, địa phương, lập luận sắc bén thì sẽ nêu bật được hậu quả của vấn đề cần nghị luận

4. Biện pháp khắc phục trong bài văn nghị luận xã hội

Đề xuất giải pháp để giải quyết hiện tượng đời sống (từ nguyên nhân nảy sinh vấn đề để đề xuất phương hướng giải quyết trước mắt, lâu dài. Chú ý chỉ rõ những việc cần làm, cách thức thực hiện, đòi hỏi sự phối hợp với những lực lượng nào).

II – Kết bài

Nêu suy nghĩ về vấn đề đã nghị luận và bài học cho bản thân.

Đây chỉ là dàn ý chung giới thiệu các bước làm bài văn nghị luận xã hội để có được một bài văn nghị luận xã hội tốt.

Thực tế, để có được phương pháp học tốt thì dù là nghị luận về một hiện tượng đời sống hay về một tư tưởng thì không phải lúc nào cũng có đủ các luận điểm đã nêu, vì còn tùy thuộc vào kỹ năng làm bài thi môn văn của từng bạn.

Cách sắp xếp luận điểm cũng cần linh hoạt, tùy theo đề và mục đích nhấn mạnh của người viết, đó mới là cách học hiệu quả.

5 nguyên tắc để viết 1 bài văn nghị luận rõ ràng, thuyết phục

Chúng ta vẫn quan niệm văn chương là phải trau chuốt, bay bổng. Nhưng bạn thử nghĩ xem, nếu đọc một bài văn ngôn từ hoa mỹ diễm lệ nhưng rốt cuộc bạn chẳng thể hiểu được người viết đang muốn trình bày điều gì, thì bạn còn muốn đọc tiếp không? Đúng vậy, mọi nỗ lực luyện câu sắp chữ chỉ là vô nghĩa nếu người đọc không nhận được thông điệp mà ta gửi gắm. Nếu thiếu đi sự rõ ràng, chặt chẽ thì mọi câu từ trau chuốt chắc khác gì một tòa nhà đồ sộ thiếu đi nền móng vững chắc, sẽ sụp đổ. Vậy làm thế nào để có được một bài văn nghị luận rõ ràng, thuyết phục?

Nguyên tắc 1: Hiểu thật rõ những gì mình viết

“Nếu bạn không thể giải thích cho đứa trẻ sáu tuổi hiểu được, thì chính bạn cũng không hiểu gì cả” – nhà bác học lừng lẫy thế giới Albert Einstein đã nói như vậy. Einstein rõ ràng không muốn chúng ta biến mọi đứa trẻ sáu tuổi thành bác học, mà ý ông nói rằng nếu ta thực sự nắm bản chất vấn đề, ta sẽ có được cách diễn giải rõ ràng và dễ hiểu.

Để thuyết phục người khác, bạn phải hiểu rõ ngọn ngành vấn đề mà mình trình bày. Để làm được điều này, bạn phải quản lý tri thức theo hai cấp độ: cấp độ tổng thể và cấp độ chi tiết.

  • Ở cấp độ tổng thể, bạn cần nắm vững sự tương quan giữa các đơn vị kiến thức liên quan đến vấn đề mà mình trình bày. Hai mối liên hệ bạn phải nắm: Mối liên hệ theo chiều dọc và mối liên hệ theo chiều ngang.
  • Mối liên hệ chiều dọc là mối liên hệ giữa các kiến thức được sắp xếp theo chiều hướng tăng tiến. Có thể đó là sự tăng tiến về thời gian, về độ khó, sự tăng tiến trong mối quan hệ nhân quả…
  • Mối liên hệ chiều  ngang là mối liên hệ giữa các kiến thức được sắp xếp đồng đẳng. Ví dụ như các tác phẩm văn học của cùng một tác giả, cùng một thể loại, cùng một trào lưu khuynh hướng…

1: Mối quan hệ chiều ngang, chiều dọc trong một vấn đề văn học sử

2 Mối quan hệ chiều ngang và chiều dọc của hệ thống chủ đề trong một tác phẩm

Trên cơ sở nắm được mối liên hệ giữa các đơn vị lý thuyết, bạn mới có thể dễ dàng vận dụng thao tác so sánh, phân tích để làm sáng tỏ vấn đề. Phân tầng tri thức theo nhiều cấp độ sẽ giúp bạn lựa chọn được điều gì cần phải nói, và chọn được cách nói dễ hiểu nhất đối với những đối tượng người đọc khác nhau. Hãy nhớ điều này: Chỉ biết thôi thì chưa phải là hiểu, nắm vững mối liên hệ mới thực sự là hiểu.

Ở cấp độ chi tiết, bạn cần phải nắm được những điểm quan trọng nhất, những điểm ấn tượng nhất trong vấn đề mà bạn đang trình bày. Một số câu hỏi có thể đặt ra:

  • Chi tiết nào (trong tác phẩm văn học, trong dẫn chứng đời sống…) thể hiện rõ nét nhất, đầy đủ nhất vấn đề mà tôi đang trình bày?
  • Đâu là điểm ấn tượng nhất với tôi?
  • Điều gì tác động mạnh nhất vào cảm xúc của tôi?
  • Điều gì đã tạo ra sự thay đổi lớn về nhận thức trong tôi?…

Những chi tiết này sẽ là điểm sáng trong bài viết, nó là căn cứ để bạn khơi sâu vấn đề mình đang trình bày và tạo sự thuyết phục trong bài viết.

Hãy tập thói quen sử dụng sơ đồ để hệ thống hóa lại những đơn vị kiến thức cần nắm. Đồng thời, khi tìm hiểu tri thức, nên có thói quen ghi chép lại những điểm ấn tượng nhất, quan trọng nhất, trọng tâm nhất.

Nguyên tắc 2: Quản lý bố cục bài viết

Bố cục của bài văn nghị luận bao giờ cũng là một hệ thống các ý được sắp xếp theo tầng bậc rõ ràng và có mối liên hệ chặt chẽ giữa các phần.

3-Bố cục các ý trong một bài văn nghị luận

Qua sơ đồ trên, ta thấy: Bài văn nghị luận không có nội dung thừa. Mọi lí lẽ, dẫn chứng đều nhằm mục đích làm sáng tỏ luận điểm. Mọi luận điểm đều nhằm mục đích làm sáng tỏ luận đề. Đây là điều bạn phải luôn luôn nhớ như in trong đầu mình khi triển khai vấn đề nghị luận. Hãy luôn tự hỏi mình: Tôi viết vấn đề này để làm gì? Những điều tôi đang viết phục vụ như thế nào đến việc làm sáng tỏ luận đề?

Sáng tỏ và thuyết phục – hai thần chú này luôn phải được niệm đi niệm lại.

Như vậy, tất cả các phần tạo ấn tượng cho bài viết chỉ thực sự có giá trị khi đặt trong tổng thể này. Trước bạn phải đặt những gì mình viết vào tổng thể bài viết và đảm bảo rằng nó thuyết phục, dễ hiểu. Sau đó mới sử dụng các tuyệt chiêu gây ấn tượng để chúng cuốn hút hơn.

Nguyên tắc 3: Bám sát luận đề

Trong bài văn nghị luận, luận đề chính là dòng sông lớn mà tất cả lí lẽ, dẫn chứng, cách hành văn đều là những dòng suối nhỏ đổ về đó. Mục đích cuối cùng là chảy ra biển lớn – tâm trí bạn đọc nhằm thuyết phục họ.

Như vậy, bạn có thể dễ dàng hình dung rằng: Tất cả mọi yếu tố trong bài văn nghị luận đều hướng về làm sáng tỏ luận đề. Như vậy, luận đề luôn cần phải được nhắc đi nhắc lại trong bài nghị luận của bạn.

4-Tất cả các yếu tố trong bài nghị luận đều hướng về luận đề

Mục đích cuối cùng của bài văn nghị luận là làm sáng tỏ luận đề, là nhằm mục đích thuyết phục người đọc về luận đề bạn đang trình bày. Như vậy, trong suốt bài viết của mình, bạn phải liên tục tự nhắc mình về luận đề, cũng là mục đích viết, và phải nhắc độc giả về luận đề, tức là mục đích họ đọc.

Bạn có thể nhắc lại luận đề trong bài văn nghị luận của mình bằng cách:

  • Sử dụng từ khóa của luận đề. Với các đề văn nghị luận, luận đề thường được khái quát trong những từ khóa quan trọng của đề bài. Việc đặt câu sử dụng các từ khóa gắn với luận đề sẽ là dấu chỉ để bạn biết chắc rằng mình không lạc hướng.
  • Sử dụng cấu trúc đoạn tổng phân hợp. Bạn mở đầu đoạn nghị luận bằng một câu chủ đề nhắc người đọc về luận đề sắp triển khai. Sau khi triển khai xong các lí lẽ, dẫn chứng, bạn quay trở lại chỉ rõ luận đề đã được làm sáng rõ như thế nào từ những điều mình vừa viết. Cách viết này sẽ giúp cho luận đề trở nên sáng rõ, giúp người đọc dễ theo dõi mạch lập luận của bạn.

Chú ý, việc nhắc lại vấn đề nghị luận không phải là cứ sao chép vô tội vạ từ khóa đề bài, cũng không phải cứ trích một cách máy móc nhận định trích trong đề bài. Quan trọng là phải chỉ ra được luận đề đã được triển khai như thế nào, được làm sáng tỏ như thế nào.

Nguyên tắc 4: Lập luận cần đủ tiền đề và kết luận

Tác giả Athony Weston, trong cuốn sách “A Rulebook for Argument” (Các thủ thuật để thành công trong tranh luận, bộ sách “Viết gì cũng đúng”, Alphabooks phát hành) đã đưa ra định nghĩa về tiền đề và kết luận như sau:

“Hãy nhớ rằng kết luận là lời phát biểu mà bạn phải đưa ra lý lẽ để chứng minh. Những lý lẽ mà bạn đưa ra dưới hình thức phát biểu gọi là tiền đề”

Hãy xem một số ví dụ sau:

Ví dụ 1: Sống hết mình cho hiện tại

Sống hết mình trong hiện tại, “cháy vèo trong gió” giúp bản thân mỗi người phát hiện và phát huy được năng lực tiềm ẩn, thỏa sức sáng tạo, cảm nhận được bao điều kì diệu trong cuộc sống. Con người với hoài bão, ý chí, không ngại khó khăn, sẵn sàng theo đuổi ước mơ của mình để đạt được thành công. Đặc biệt, những người sống hết khả năng luôn được mọi người yêu mến bởi họ đã gieo vào chúng ta ánh sáng hy vọng, tiếp thêm cho chúng ta động lực vững vàng để đối diện với nghịch cảnh trong đời. Chắc hẳn, mỗi chúng ta đã hơn một lần thán phục chàng trai Nick Vujicic – biểu tượng của sức sống mãnh liệt. Nick sinh ra không may mắn bị khuyết tứ chi, song không vì thế mà anh tuyệt vọng. Với lòng dũng cảm, tài năng, nghị lực phi thường, anh đã trở thành nhà diễn thuyết truyền động lực sống đến mọi người. Nick nói: “Tôi là một điều kì diệu. Bạn cũng là một điều kì diệu”. Điều kì diệu ấy có được chính là vì trong từng khoảnh khắc hiện tại anh đều tỏa sáng hết mình, dù cuộc đời còn nhiều đắng cay, đau khổ. (Trần Thị Thu Thảo).

Tiền đề-Sống hết mình trong hiện tại giúp con người phát huy khả năng tiềm ẩn.-Sống hết mình trong hiện tại giúp con người có nghị lực vượt qua khó khăn thử thách và vươn tới thành công (Dẫn chứng: Nick Vujicic).
Kết luậnCần sống hết mình cho hiện tại

Ví dụ 2: Nếu thiếu đi thơ ca, tâm hồn người nghệ sĩ sẽ vô cùng trống vắng.

Mặt khác, sức mạnh kì diệu và quảng đại của thơ cả có thể vươn tới hoàn thành nhiệm vụ của những môn nghệ thuật khác. “Thơ là thơ, là nhạc, là họa, là chạm khắc…”. Tính nhạc, họa, điêu khắc trong thơ không tồn tại dưới dạng vật chất nhưng luôn hiển hiện, đòi hỏi một khả năng cảm thụ tuyệt vời. Đến với thơ, người nghệ sĩ có cơ hội hòa quyện với niềm say mệ của toàn vẹn nghệ thuật, làm thơ mà như sáng tác nhạc, như điêu khắc, vẽ tranh. Điều kì diệu ấy nếu mất đi sẽ làm cho người nghệ sĩ trống vắng đến nhường nào?

 Nhà thơ Quang dũng là người nghệ sĩ đa tài. Ông làm thơ, vẽ tranh, sáng tác nhạc. Và tất cả tài hoa ấy hội tụ trong thơ ông:

“Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai pha luông mưa xa khơi”

(Tây Tiến)

Hai câu thơ miêu tả bức tranh dữ dội, hoang sơ mà nên thơ, lãng mạn của vùng núi Tây Bắc. Phép đối ở câu thơ thứ nhất như bẻ đôi nhịp thơ, đẩy hai về về hai hướng đối lập: Cao và sâu. Cao vời vợi, sâu thăm thẳm. Cái hay ở đây tác giả đã dùng cái cao để nói cái sâu, dùng cái sâu khôn cùng để tả cái cao vô tận. Đó là chất thơ của ngôn ngữ tạo hình giàu tính biểu cảm. Chất thơ ấy còn hòa quyện trong chất nhạc. Như Xuân Diệu từng nhận xét: “Đọc thơ Quang Dũng như ngậm nhạc trong miệng”. Câu thơ “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” với thanh bằng tuyệt đối đã hài hòa âm điệu, tiết tấu với câu thơ gân guốc, hiểm trở ở trên, tạo nên sự hòa quyện uyển chuyển, tưởng như đối nhau chan chát mà lại hòa hợp, gợi cảm, giàu sức hút. Người đọc như đang nghe một giai điệu thu hút giàu tiết tâu khi đang ngắm nhìn, tĩnh tâm nơi khoảng lặng của một bức tranh thủy rmặc nhòa đi trong màn mưa của cơn “mưa xa khơi”. Hình ảnh những ngôi nhà xa xa nhòa đi trong màn mưa xa ngái, mờ ảo còn chất chứa nỗi niềm về quê hương, gia đình của những người lính Tây Tiến trên đường hành quân gian khổ. Ta bắt gặp một ánh nhìn bình yên…

Như vậy, nhờ thơ ca, nhà thơ Quang Dũng đã bộc lộ hết tài hoa và xúc cảm cũg như tâm sự sâu kín, nỗi nhớ cồn cào trong mình. Nếu không có thơ ca thì sao? Ông vẫn có thể vẽ, vẫn có thể sáng tác nhạc. Nhưng liệu những gam màu có thay thế được cái sâu khôn cùng ẩn chứa trong những con chữ mà sức diễn đạt là vô hạn? Và liệu những giai điệu kia vừa có thể giàu tính tạo hình lại vừa có thể trĩu nặng cảm xúc, như thơ? Với Quang Dũng nói riêng và các thi sĩ nói chung, thơ là không thể thay thế. Với tư cách là nhà sáng tạo mà khả năng sáng tạo luôn thôi thúc, luôn sôi sục, nếu thơ mất đi thì những thi sĩ sẽ rơi vào bế tắc, như một kẻ bị giam cầm trong ngục tối mà không thấy ánh sáng, như tâm hồn sống cuộc đời thực vật. Nỗi mất mát ấy chẳng phải cũng đau đớn như “mồ côi” sao?

Tiền đề– Lí lẽ: Đến với thơ ca, người nghệ sĩ có khả năng hòa nhập tâm hồn mình với nhiều loại hình nghệ thuật khác, vậy không có thơ ca thì khoảng trống để lại là vô cùng.– Dẫn chứng: Quang Dũng và bài thơ Tây Tiến è Nếu không có thơ ca, Quang Dũng vẫn có thể vẽ tranh, sáng tác nhạc, nhưng những cung bậc cảm xúc đa dạng mà thơ ca truyền tải thì không  thể thay thế được.
Kết luậnNếu thiếu đi thơ ca, tâm hồn người nghệ sĩ sẽ vô cùng trống vắng.

Như vậy, trong bất kì phần triển khai luận điểm nào trong bài nghị luận, hai yếu tố tiền đề và kết luận luôn phải gắn chặt với nhau. Người đọc sẽ ngay lập tức hỏi “Tại sao” khi bạn trình bày kết luận mà thiếu đi dẫn chứng. Và họ sẽ hỏi bạn: “Thì sao” nếu chỉ nêu tiền đề mà chẳng dẫn tới kết luận nào cả. Hãy tự hỏi mình như vậy: Tại sao tôi có thể nói điều này? Tôi nói những điều này rồi thì sao? Hai câu hỏi này sẽ giúp bạn kiểm tra xem lập luận của mình đã đủ tiền đề và kết luận hay chưa.

Nguyên tắc 5: Viết để thuyết phục người đọc, không phải để thỏa mãn cái tôi

Công bằng mà nói, chẳng ai có nghĩa vụ phải đọc hết những gì bạn viết ra. Người đọc luôn có quyền lựa chọn.  Thống kê chỉ ra rằng trên Facebook  người ta chỉ mất 4 s để quyết định xem có muốn đọc một bài viết hay không. Cuộc sống càng hối hả người ta càng vội vã, độ kiên nhẫn của người đọc giảm dần qua từng cái cuộn chuột trên bài viết của bạn. Vậy bạn nghĩ xem, ai muốn đọc một bài viết chỉ thao thao bất tuyệt về một cái tôi nào đó chẳng dính dáng đến mình?

Ngay từ định nghĩa, văn nghị luận đã không phải chỉ hướng về người viết. Nghị luận là thuyết phục ai đó về một quan điểm nào đó. Yếu tố người đọc được đặt ra từ trong định nghĩa. Bài viết của bạn chỉ có sự thuyết phục khi bạn hướng đến người đọc và trong đầu bạn luôn rõ ràng một mục đích tối thượng: Thuyết phục người đó.

Joe Vitale trong tác phẩm nổi tiếng “Thôi miên bằng ngôn từ” đã gợi ý một cách viết tuyệt vời để tạo sự thuyết phục. Ông khuyên các nhà viết quảng cáo hãy viết bài dưới dạng một lá thư, hình dung một người nhận cụ thể và viết thật chân thành để thuyết phục người đọc mua sản phẩm. Sau khi lá thư hoàn thành, biên tập thật cẩn thận, xóa đi các dấu  hiệu hình thức lá thư, biên tập lại thêm nhiều lần nữa, và ta có một bài viết hoàn hảo. Joe gọi đây là “bí quyết triệu đô”.

Đôi khi bạn không có đủ thời gian để làm tất cả các thao tác đó cho bài văn nghị luận của mình, nhưng bạn vẫn có thể rút ra bài học từ đó: Hãy hình dung về một người cụ thể trong quá trình viết. Và hãy viết để thuyết phục người đó. Thao tác này sẽ giúp cho quá trình viết của bạn có một định hướng rõ ràng hơn và các lập luận chặt chẽ hơn. Bạn sẽ không quên luận đề và mục đích làm sáng rõ luận đề. Khi đó, cảm xúc của bài viết cũng tự nhiên và chân thực hơn.

Ngoài ra, hãy thử tự hỏi mình xem bạn thích đọc một bài viết như thế nào, người đọc thích đọc một bài viết như thế nào? Sau đây là một số điều cần lưu ý:

  • Hãy viết ngắn gọn và đi thẳng vào vấn đề. Cho dù đủ kiên nhẫn, thì người đọc cũng sẽ không thiện cảm với những bài viết quá dài dòng và chẳng nói được điều gì rõ ràng, cụ thể. Nếu phải đọc một bài như vậy, đó là cực hình.
  • Nên trình bày theo kiểu diễn dịch hơn là kiểu quy nạp. Những thông tin chính phải đưa lên trước, những thông tin phụ đưa ra sau. Bởi đôi khi kết cấu quy nạp gây cảm giác khó chịu: Để hiểu điều bạn nói, người ta phải đọc một đống lí lẽ trong hoang mang, sau đó nhận ra ý chính ở cuối bài, lại phải lội ngược lên đọc lại. Rất khó chịu.
  • Gây ấn tượng, tạo sự thu hút nhưng đừng phô diễn. Trong bài văn cần có những điểm sáng để thu hút sự chú ý của người đọc. Nhưng những câu văn xáo rỗng, những hình ảnh vô nghĩa, những câu chuyện chẳng liên quan thì không có giá trị gì trong bài viết của ta cả. Hãy cân nhắc về việc phô diễn trong bài viết: Đôi khi điều bạn thấy hay không phải là điều người đọc thích. Chẳng ai quan tâm bạn phải dụng công làm ra nó thế nào, khi họ thấy không hấp dẫn họ từ bỏ, đơn giản vậy thôi.

Mẫu số 4: Cách soạn đề văn nghị luận mới nhất

1. Văn nghị luận là gì?

1.1. Khái niệm văn nghị luận:

Nghị luận là một dạng văn bản mà người viết sử dụng những lập luận, lý lẽ của bản thân để bàn luận về một vấn đề, một sự vật, sự việc, hiện tượng trong đời sống, hay là bàn luận đánh giá về một tác phẩm văn học, tư tưởng suy nghĩ của một ai đó. Nhằm làm rõ vấn đề cần phải nghị luận. Bài văn nghị luận là cần phải có tính thuyết phục cao, các lập luận trong bài cần có những dẫn chứng, những ví dụ cụ thể cho vấn đề đang bàn luận.

1.2. Đặc điểm của văn nghị luận:

Vấn đề quan trọng trong một bài văn nghị luận là cần phải có tính thuyết phục và sự mạch lạc thống nhất trong các luận điểm, luận cứ.

Các luận điểm, luận cứ nêu ra trong bài cần phải có những dẫn chứng, những ví dụ cụ thể rõ ràng, càng nhiều dẫn chứng ví dụ thì bài luận sẽ càng hay và sẽ làm sáng tỏ được vấn đề cần phải nghị luận.

2. Các bước và cách làm văn nghị luận xã hội, văn học:

Bước 1 – Viết câu mở đoạn: Giới thiệu chủ đề bài nghị luận xã hội

Tùy theo dung lượng của đoạn văn nghị luận xã hội mà em có thể chọn viết phần mở bài dài hay ngắn. Tuy nhiên hiện nay độ dài cho đoạn văn nghị luận xã hội chỉ là 200 chữ. Do đó cách viết văn nghị luận xã hội cho câu mở đoạn của các em cần hết sức ngắn gọn. Chỉ nên từ 1 đến 2 câu văn và giới thiệu trực tiếp về chủ đề bài viết

Bước 2 – Giải thích những từ ngữ trọng tâm

Bao gồm các khái niệm, các từ ngữ đặc biệt, nghĩa đen, nghĩa bóng (nếu có) của chúng. Từ đó, giải thích ý nghĩa khái quát của câu nói, lời nhận định, mẩu truyện ngụ ngôn… được trích dẫn trong bài đọc (với các đề tích hợp đọc hiểu). Đây còn là bước dẫn giúp em chuyển sang phần thân đoạn.

Bước 3: Nêu luận điểm và dẫn chứng để phân tích luận điểm

Đây là bước đầu tiên của phần nghị luận trong thân đoạn. Do đó em phải nêu được luận điểm chính số 1 của bài. Sau đó đưa ra dẫn chứng và tiến hành phân tích dẫn chứng để phân tích luận điểm.

 

 

Chú ý với cách viết văn nghị luận xã hội khi đưa ra hệ thống dẫn chứng, cần đưa từ phạm vi rộng đến phạm vi hẹp (hoặc ngược lại) để dẫn chứng có được tính thống nhất. Ví dụ: lấy dẫn chứng từ bản thân -> gia đình -> xã hội hoặc từ xã hội -> gia đình -> bản thân. Tránh sắp xếp dẫn chứng lộn xộn: bản thân -> xã hội -> gia đình sẽ làm đoạn văn nghị luận trở nên thiếu thuyết phục

Bước 4: Phân tích nguyên nhân của vấn đề

Khi phân tích nguyên nhân, người viết cần nêu được cả 2 khía cạnh. Bao gồm nguyên nhân chủ quan lẫn nguyên nhân khách quan của vấn đề. Chú ý với mỗi khía cạnh nêu tối đa 2 nguyên nhân chính. Để tránh đoạn văn nghị luận xã hội 200 chữ bị lan man, dài dòng. Khi đưa ra hệ thống các nguyên nhân cũng cần sắp xếp theo thứ tự nhất định.

Bước 5: Phân tích những ảnh hưởng của vấn đề 

Tương tự như khi phân tích nguyên nhân, khi nêu lên những ảnh hưởng của sự việc, em hãy cố gắng nêu cả những tác động tích cực lẫn tiêu cực của hành động đó tới xã hội cũng như với mỗi cá nhân. Không nên chỉ đưa ra tác động một chiều, tránh bài nghị luận xã hội 200 chữ bị thiên kiến.

Bước 6: Mở rộng vấn đề cần nghị luận 

Để có được cách viết văn nghị luận xã hội một cách đa chiều hơn, sâu sắc hơn em có thể sử dụng một số kỹ thuật mở rộng vấn đề nghị luận như sau

Giải thích: Không chỉ đưa ra biểu hiện của thực trạng mà em có thể tiến hành lý giải thực trạng đó bằng thực tế

 

 

Liên hệ với những chủ đề có điểm tương đồng: Ví dụ khi nói về vấn đề tai nạn giao thông, em có thể đưa thêm dẫn chứng về tỷ lệ tử vong của các căn bệnh khác. Để so sánh và làm nổi bật tỷ lệ tử vong lớn của tai nạn giao thông

Lật ngược vấn đề: Đặt ra giả thiết trái ngược và tiến hành phân tích, bác bỏ, đưa ra kết luận

Bước 7: Nhấn mạnh quan điểm cá nhân về vấn đề 

Vì là một bài văn nghị luận xã hội nên người viết phải khẳng định được quan điểm của mình (đồng ý/ không đồng ý, tán thành/ bác bỏ). Cũng có thể sử dụng cách viết văn nghị luận xã hội đưa ra ý kiến trung lập. Nhưng phải nêu đầy đủ được các mặt lợi ích cũng như hạn chế của vấn đề và phân tích sâu sắc.

Bước 8: Rút ra bài học cho bản thân và cho xã hội

Từ thực trạng, lợi ích cũng như tác hại, người viết nên khái quát lại bài học dành cho bản thân. Phần nêu bài học chỉ nên nêu ngắn gọn, tránh lan man.

3. Cách lập dàn ý làm bài văn nghị luận xã hội, văn học:

Các công thức cần nhớ khi làm bài văn nghị luận bắt nguồn từ những luận điểm, luận cứ cơ bản trong bài văn nghị luận. Từ những công thức dễ nhớ này mà người viết có thể tìm ý, xây dựng khung ý tưởng dồi dào cho bài viết.

Cách lập dàn ý làm bài văn nghị luận xã hội: mở bài, thân bài và kết bài. Sau đây là các công thức để học sinh có thể viết tốt ba phần cơ bản này.

 

 

3.1. Mở bài văn nghị luận:

Phần mở bài là chìa khóa cho toàn bộ bài văn. Phần mở bài gây ấn tượng đầu tiên cho người đọc về phong cách nghị luận, phong cách ngôn ngữ riêng của người viết. Phần mở bài gồm có 3 phần, theo 3 công thức: gợi – đưa – báo, trong đó:

Gợi: Gợi ý ra vấn đề cần làm.

Sau khi Gợi thì đưa ra vấn đề.

Cuối cùng là Báo – tức là phải thể hiện cho người viết biết mình sẽ làm gì.

Trong đó, khó nhất là phần gợi ý dẫn dắt vấn đề, có 3 cặp/6 lối để giải quyết như sau:

Cặp 1: Tương đồng/tương phản – đưa ra một vấn đề tương tự/hoặc trái ngược để liên tưởng đến vấn đề cần giải quyết, sau đó mới tạo móc nối để ĐƯA vấn đề ra, cách này thường dùng khi cần chứng minh, giải thích, bình luận về câu nói, tục ngữ, suy nghĩ.

Cặp 2: Xuất xứ/đại ý – dựa vào thông tin xuất xứ/ đại ý để dưa vấn đề ra, cách này thường dùng cho tác phẩm/tác giả nổi tiếng.

Cặp 3: Diễn dịch/ quy nạp – cách này thì cũng khá rõ về ý nghĩa rồi.

 

 

3.2. Thân bài văn nghị luận:

Thân bài thực chất là một tập hợp các đoạn văn nhỏ nhằm giải quyết một vấn đề chung. Để tìm ý cho phần thân bài thì phải có dẫn chứng phù hợp trong cách làm bài văn nghị luận xã hội, có thể dùng các công thức sau đây để đặt câu hỏi nhằm tìm ý càng nhiều và dồi dào càng tốt, sau đó có thể sử dụng toàn bộ hoặc một phần ý tưởng để hình thành khung ý cho bài văn:

* Đối với Giải thích: 

Là sự giải thích các từ ngữ, khái niệm, câu từ, nghĩa đen, nghĩa bóng,..nhằm giúp người khác hiểu rõ lại vấn đề một cách đắn đúng nhất.

Cách giải thích: dùng những từ ngữ đơn giản dễ hiểu và những lý lẽ để cắt nghĩa lại những khái niệm, tư tưởng đạo lý phức tạp.

Ví dụ: “Cái đẹp vừa ý là xinh, là khéo. Ta không háo hức cái tráng lệ, huy hoàng, không say mê cái huyền ảo, kỳ vĩ. Màu sắc chuộng cái dịu dàng, thanh nhã, ghét sặc sỡ. Quy mô chuộng sự vừa khéo, vừa xinh, phải khoảng. Giao tiếp, ứng xử chuộng hợp tình, hợp lí, áo quần, trang sức, món ăn đều không chuộng sự cầu kì. Tất cả đều hướng vào cái đẹp dịu dàng, thanh lịch, duyên dáng và có quy mô vừa phải”.

* Đối với Chứng minh:

Mặt: các mặt của vấn đề?

Không: không gian xảy ra vấn đề (thành thị, nông thôn, việt nam hay nước ngoài…).

 

 

Giai: giai đoạn (vd giai đoạn trước 1945, sau 1945..).

Thời: thời gian – nghĩa hẹp hơn so với giai đoạn (có thể là, mùa thu mùa đông, mùa mưa mùa nắng, buổi sáng buổi chiều..).

Lứa: lứa tuổi (thiếu niên hay người già, thanh niên hay thiếu nữ…).

Đưa ra những bằng chứng, những thông tin có căn cứ để chứng minh cho vấn đề đang nghị luận

Cách chứng minh: nêu ra các bằng chứng có căn cứ thông tin xác thực, các dẫn chứng phải phù hợp và có tư duy logic.

Ví dụ: “Từ sau khi Việt Nam hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế thị trường, tiềm lực khoa học và công nghệ (KH&CN) của đất nước tăng lên đáng kể. Đầu tư từ ngân sách cho KH&CN vẫn giữ mức 2% trong hơn 10 năm qua, nhưng giá trị tuyệt đối tăng lên rất nhanh, đến thời điểm này đã tương đương khoảng 1 tỷ USD/năm. Cơ sở vật chất cho KH&CN đã đạt được mức độ nhất định với hệ thống gần 600 viện nghiên cứu và trung tâm nghiên cứu của Nhà nước, hơn 1.000 tổ chức KH&CN của các thành phần kinh tế khác, 3 khu công nghệ cao quốc gia ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và Đà Nẵng đã bắt đầu có sản phẩm đạt kết quả tốt. Việt Nam cũng có cơ sở hạ tầng thông tin tốt trong khu vực ASEAN  (kết nối thông tin với mạng Á- Âu, mạng VinaREN thông qua TEIN2,  TEIN4,…”

* Đối với phân tích:

Thao tác phân tích là một thao tác chủ yếu trong một bài văn nghị luận,  giúp làm sáng tỏ đào sâu các vấn đề từ nhiều mặt, nhiều khía cạnh nhỏ và sâu sắc nhất.Từ đó đưa ra những nhận định tổng quan về vấn đề.

 

 

Cách phân tích: chia vấn đề cần bàn luận ra nhiều phần nhỏ với nhiều khía cạnh khác nhau , sau đó phân tích và làm rõ từng phần đó.

* Đối với bình luận:

Đưa ra những ý kiến của bản thân để đánh giá và thảo luận về vấn đề

Cách bình luận: nêu ra những ý kiến để bàn luận, đánh giá vấn đề trên nhiều phương diện.

Ví dụ: “… Văn hóa ứng xử từ lâu đã trở thành chuẩn mực trong việc đánh giá nhân cách con người. Cảm ơn là một trong các biểu hiện của ứng xử có văn hóa. Ở ta, từ cảm ơn được nghe rất nhiều trong các cuộc họp: cảm ơn sự có mặt của quý vị đại biểu, cảm ơn sự chú ý của mọi người…Nhưng đó chỉ là những lời khô cứng, ít cảm xúc. Chỉ có lời cảm ơn chân thành, xuất phát từ đáy lòng, từ sự tôn trọng nhau bất kể trên dưới mới thực sự là điều cần có cho một xã hội văn minh. Người ta có thể cảm ơn vì những chuyện rất nhỏ như được nhường vào cửa trước, được chỉ đường khi hỏi… Ấy là chưa kể đến những chuyện lớn lao như cảm ơn người đã cứu mạng mình, người đã chìa tay giúp đỡ mình trong cơn hoạn nạn … Những lúc đó, lời cảm ơn còn có nghĩa là đội ơn”.

* Đối với so sánh:

Làm sáng tỏ vấn đề bằng cách đặt vào sự vật sự việc khác tương đồng nhưng dễ hiểu hơn, để nhằm làm sáng tỏ được vấn đề

Cách so sánh: so sánh vấn đề đang bàn luận với một vấn đề khác đã được làm sáng tỏ trước đó ,hoặc với các sự vật sự việc hiển nhiên, để từ đó giúp nêu rõ hơn quan điểm của người viết.

 

 

Ví dụ: “Ai cũng biết Hàn Quốc phát triển kinh tế khá nhanh, vào loại “con rồng nhỏ” có quan hệ khá chặt chẽ với các nước phương Tây, một nền kinh tế thị trường nhộn nhịp, có quan hệ quốc tế rộng rãi. Khắp nơi đều có quảng cáo, nhưng không bao giờ quảng cáo thương mại được đặt ở những nơi công sở, hội trường lớn, danh lam thắng cảnh. Chữ nước ngoài, chủ yếu là tiếng Anh, nếu có thì viết nhỏ đặt dưới chữ Triều Tiên to hơn ở phía trên. Đi đâu. nhìn đâu cũng thấy nổi bật những bảng hiệu chữ Triều Tiên. Trong khi đó thì ở một vài thành phố của ta nhìn vào đâu cũng thấy tiếng Anh, có bảng hiệu của các cơ sở của ta hẳn hoi mà chữ nước ngoài lại lớn hơn cả chữ Việt, có lúc ngỡ ngàng tưởng như mình lạc sang một nước khác”.

* Đối với bác bỏ:

Là cách tranh luận, phản bác một ý kiến được cho là sai

Cách bác bỏ: nêu ra ý kiến sai sau đó tranh luận đưa ra những ý kiến lập luận đúng . Cần nêu ra cụ thể sai ở đâu và sai ở điểm nào

Những ý sai nhỏ phải được đúc kết từ những ý lớn, khi thống nhất lại phải đưa ra được những đánh giá logic với nhau.

Ví dụ: “ …Nhiều đồng bào chúng ta, để biện minh việc từ bỏ tiếng mẹ đẻ, đã than phiền rằng tiếng nước mình nghèo nàn. Lời trách cứ này không có cơ sở nào cả. Họ chỉ biết những từ thông dụng của ngôn ngữ và còn nghèo những từ An Nam hơn bất cứ người phụ nữ và nông dân An Nam nào. Ngôn ngữ của Nguyễn Du nghèo hay giàu?

Vì sao người An Nam có thể dịch những tác phẩm của Trung Quốc sang nước mình, mà lại không thể viết những tác phẩm tương tự?

Phải quy lỗi cho sự nghèo nàn của ngôn ngữ hay sự bất tài của con người?

 

 

Ở An Nam cũng như mọi nơi khác, đều có thể ứng dụng nguyên tắc này:

Điều gì người ta suy nghĩ kĩ sẽ diễn đạt rõ ràng, và dễ dàng tìm thấy những từ để nói ra. …”

3.3. Kết bài văn nghị luận:

Khi kết bài phải có bài học nhận thức và hành động cần có trong văn nghị luận xã hội. Có công thức Tóm – Rút – Phấn để thực hiện phần này:

Tóm: tóm tắt vấn đề

Rút: rút ra kết luận gì

Phấn: hướng phấn đấu, suy nghĩ riêng của bản thân.

4. Cách làm bài nghị luận về một yếu tố tư tưởng đạo lý:

Trước hết hãy cắt nghĩa các từ khóa, từ then chốt theo ý hiểu của bạn. Giải thích ý nghĩa của câu nói đó.

Khẳng định câu nói đó là đúng, sai hay chưa hoàn toàn đúng. Phân tích câu nói, thường dùng lời lẽ và lật lại vấn đề.

 

 

Lấy ví dụ, phân tích ví dụ để chứng minh ý nghĩa của câu nói (ví dụ về một ai đó nổi tiếng, có những đóng góp lớn).

Liên hệ với bản thân bạn.

Rút ra bài học cho bản thân và mọi người. Phê phán những người đi ngược lại với chân lý của tư tưởng đạo đức đó.

4.1. Nghị luận về tư tưởng đạo lí tốt:

Mở bài: nêu lên tư tưởng đạo lí tốt và khẳng định lại tính đúng của vấn đề

Thân bài: nêu lại vấn đề và giải thích

Chứng minh tính đúng đắn của vấn đề: nêu ra các luận chứng, luận cứ để chứng minh cho tính đúng đó.

Đưa ra những dẫn chứng , ví dụ cụ thể để làm rõ dẫn chứng đó.

Phê phán nêu ra những ý kiến trái lại với những tư tưởng trên, sau đó đưa ra những lời khuyên

 

 

Kết bài: khẳng định lại tính đúng của vấn đề, đánh giá nêu ra bài học.

4.2. Nghị luận về tư tưởng đạo lí xấu:

Mở bài: nêu lên tư tưởng đạo lí xấu và phản bác lại vấn đề

Thân bài: nêu lại vấn đề

Phân tích những mặt xấu những mặt ảnh hưởng của tư tưởng

Nêu ra những dẫn chứng để chứng minh tư tưởng là sai

Lên án phê phán những người ủng hộ tư tưởng này

Kết bài: Khẳng định lại sự sai trái của vấn đề, nêu ra những ý kiến đánh giá.

5. Cách làm bài văn nghị luận về một vấn đề hiện tượng kỳ lạ đời sống:

Nêu lên hiện tượng trong cuộc sống. Hiện tượng này có phổ biến hay không.

 

 

Phân tích hiện tượng trong đời sống thực tế. Chỉ ra nguyên nhân và hậu quả.

Lấy ví dụ cụ thể để chứng minh.

Liên hệ với bản thân bạn.

Rút ra bài học cho bản thân và mọi người. Phê phán và đưa ra lời khuyên.

Dàn ý mẫu tham khảo về một hiện tượng đời sống:

Mở bài: Nêu hiện tượng trong đời sống cần nghị luận

Thân bài:

Mô tả lại hiện tượngđó là hiện tượng tốt hay xấu tại sao?

 

 

Nêu thực trạng của hiện tượng

Giải thích về hiện tượng

Lý giải nguyên nhân khách quan, chủ quan

Khẳng định lại hiện tượng đó là đúng hay sai và nêu ra những dẫn chứng ví dụ cho vấn đề đó

Nêu ra các giải pháp và những biện pháp khắc phục

Kết bài: Nêu ra những ý kiến của bản thân về hiện tượng xã hội, rút ra những bài học kinh nghiệm cho bản thân thông qua vấn đề .

6. Cách làm bài văn nghị luận về một yếu tố xã hội rút ra trong tác phẩm văn học:

Mở bài: Giải thích, tóm tắt lại vấn đề xã hội rút ra từ tác phẩm, đặt ra vấn đề và hướng giải quyết của nó.

Thân bài:

 

 

Giới thiệu đôi nét về tác giả, tác phẩm, nêu lại yếu tố xã hội rút ra trong tác phẩm

Vấn đề đó là gì như thế nào?

Lưu ý tác phẩm văn học chỉ là dẫn chứng để nêu ra vấn đề xã hội vì vậy không nên phân tích quá sâu quá kỉ vào tác giả tác phẩm mà tập trung vào vấn đề cần xã hội rút ra

Khẳng định ý nghĩa của vấn đề rút ra trong việc tạo nên những giá trị cho tác phẩm

Những bài học kinh nghiệm rút ra từ từ vấn đề

Kết bài: Đánh giá về vấn đề xã hội vừa rút ra .

7. Một số lưu ý để viết được một bài văn chuẩn cấu trúc bài văn nghị luận xã hội:

Phân bố thời gian làm bài hợp lý. Đoạn văn nghị luận xã hội chỉ gồm 200 chữ cho đến 250 chữ, các em không nên dành quá nhiều thời gian cho câu hỏi này. Song cũng không nên mải mê làm các câu khác và viết đoạn văn nghị luận một cách qua loa, cẩu thả

Viết câu ngắn gọn, không rườm rà, tiết chế các yếu tố biểu cảm làm mất đi tính rõ ràng, xác thực mà một bài văn nghị luận xã hội cần có

 

 

Dẫn chứng đưa ra phải hợp lí, không được quá ít hoặc quá nhiều; dẫn chứng chung chung hoặc không khách quan, mang tính cảm tính, thiếu sự thực tế, logic.

Độ dài văn nghị luận xã hội cần phù hợp với yêu cầu: Thông thường khi ra đề sẽ có thêm phần yêu cầu bài viết bao nhiêu chữ. Người viết cần tuân thủ đúng yêu cầu này. Tránh viết quá dài, hoặc quá ngắn đều dẫn đến kết quả điểm không cao.

8. Một số đề nghị luận xã hội ôn thi THPT QG và đáp án:

8.1. Đề nghị luận xã hội về người anh hùng trong thời gian dịch COVID-19:

Đề bài: Anh/ chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày quan niệm về người anh hùng trong thời đại ngày nay, đặc biệt trong thời gian dịch COVID-19

Đáp án: Hướng dẫn làm đề nghị luận xã hội về dịch covid

– Mở bài: giới thiệu vấn đề cần nghị luận

– Thân bài: có thể triển khai một số nội dung như:

+ Giải thích: Anh hùng là người có những hành động phi thường, phẩm chất cao đẹp, có đóng góp lớn cho cộng đồng.

+ Biểu hiện của anh hùng thời nay: Quan niệm về anh hùng được mở rộng

 

 

Anh hùng trong y tế: các bác sĩ, y tá tuyến đầu chống dịch

Anh hùng trong chiến đấu: Các chú bộ đội, các chú công an, cảnh sát phòng cháy,… tất cả đều đang ngày đêm bảo vệ sự bình yên cho nhân dân và những người bị cách ly.

Anh hùng trong lao động: những người lao động sản xuất trực tiếp trong nông nghiệp, công nghiệp; những lao động trí tuệ trong các ngành khoa học: Ngày đêm sản xuất khẩu trang, nước rửa tay bình ổn giá, đảm bảo cung ứng lương thực, sản xuất nghiên cứu bộ test kit, nghiên cứu vaccine,…

Anh hùng trong đời thường: Những người dân thường nhưng có những đóng góp lớn có nhưng hành động dũng cảm. Những đội nhóm thiện nguyện giúp đỡ những người vô gia cư trong thời kỳ dịch COVID

+ Kết luận: Sự đồng lòng quyết tâm của Chính phủ và nhân dân đã giúp “Việt Nam quyết thắng đại dịch” mà “không một ai bị bỏ lại phía sau”

8.2. Đề nghị luận xã hội về tâm thái tích cực trong cuộc sống:

Đề bài: Hãy viết đoạn văn khoảng 200 từ nêu ý kiến của anh (chị) về cách thức để mỗi người hình thành tâm thái tích cực trong cuộc sống.

Đáp án: Có thể nêu một số nội dung sau:

Tâm thái tích cực đến từ một nhân sinh quan tích cực, đúng đắn. Con người có thể hình thành nhân sinh quan đúng đắn qua sách vở. Hoặc qua việc rèn luyện lối sống yêu thương, chan hòa với mọi người xung quanh.

 

 

Tâm thái tích cực cũng có thể đến từ việc chúng ta thấu hiểu bản thân mình. Cần luôn lắng nghe tâm hồn để hiểu được điểm mạnh, yếu, hiểu được khát vọng và lý tưởng sống của mình.

Tâm thái tích cực có thể rèn luyện qua những việc tốt, việc thiện mà ta làm trong đời. Những hành động ấy giúp lương tâm ta thanh thản, giúp ta thêm yêu cuộc sống và nhận về cho mình những bài học quý giá.

8.3. Đề nghị luận xã hội về hướng nghiệp cho giới trẻ:

Đề bài: Hãy viết đoạn văn khoảng 200 từ nêu ý kiến của anh (chị) về những việc giới trẻ cần tập trung đầu tư cho bản thân để thích nghi với sự biến đổi của thị trường nghề nghiệp trong tương lai

Đáp án đề nghị luận xã hội về định hướng sự nghiệp cho giới trẻ:

Người trẻ cần chuẩn bị cho mình một nền tảng kiến thức vững vàng, nhất là kiến thức thuộc về lĩnh vực chuyên môn.

Mỗi công việc khác nhau sẽ cần những kĩ năng đặc thù riêng. Để thành công trong tương lai, việc trau dồi kĩ các kĩ năng là điều cần thiết.

Trước sự biến đổi không ngừng về thị trường nghề nghiệp trong xã hội, mỗi người cần nghiêm túc lên một kế hoạch phát triển cho chính bản thân.

8.4. Đề nghị luận xã hội về bệnh thiển cận và vụ lợi trong học tập của học sinh:

Đề bài: Hãy viết một đoạn (khoảng 200 chữ) trình bày ý kiến của anh/chị về bệnh “thiển cận và vụ lợi” trong học tập của học sinh hiện nay

 

 

Đáp án:

1/ Giải thích

– Thói thiển cận là suy nghĩ và hành động nông cạn, chỉ nhìn thấy cái gần, cái trước mắt, không biết nhìn xa, trông rộng.

– Vụ lợi: tham lam, chỉ biết vơ lợi ích cho mình.

=> Lối sống tiêu cực ngày càng phổ biến trong học sinh

2/ Bàn luận

– Thiển cận và vụ lợi trong học tập của HS hiện nay là thực tế với nhiều biểu hiện: chỉ học những môn để thi, tìm mọi cách để có điểm cao, chỉ học những gì có lợi cho mục đích ngắn hạn của mình.

– Hậu quả: học lệch, tính cách ích kỉ, cách học ấy sẽ dẫn đến lệch lạc trong lối sống ở tương lai.

 

 

3/ Mở rộng và liên hệ bản thân

– Cần phải thay đổi căn bệnh này từ giáo dục của gia đình, nhà trường, xã hội.

– Liên hệ bản thân

8.5. Đề nghị luận xã hội về hiểu mình và hiểu người:

Anh/chị hãy viết một đoạn văn khoảng 200 chữ bàn về ý nghĩa của việc hiểu mình và hiểu người.

Đáp án đề văn nghị luận xã hội mẫu

Yêu cầu về nội dung: Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đạt được các ý sau:

– Hiểu mình và hiểu người là biểu hiện cao của trí tuệ.

+ Hiểu mình là biết rõ ưu điểm, nhược điểm của mình. Hiểu rõ những gì mình thật sự yêu thích và mong muốn cũng như những điều khiến mình không hài lòng trong cuộc sống.

+ Hiểu người là phát hiện chính xác nhu cầu, mục đích. Nỗi lo lắng, niềm hy vọng, cách nhìn thế giới. Các mối quan tâm, hiện trạng cảm xúc của người đó.

– Hiểu mình và hiểu người là một trong những điều kiện quan trọng. Giúp chúng ta biết cách ứng xử và giải quyết mọi vấn đề trong cuộc sống. Hiểu người, để rồi đáp ứng người. Thì kết quả là người cũng sẽ đáp ứng mọi điều mình mong muốn.

Nếu không hiểu mình, hiểu người. Thì mọi suy nghĩ của ta chỉ là áp đặt hoặc hời hợt. Mọi vấn đề gặp phải đều khó giải quyết thấu đáo. Hiểu mình để có cái nhìn cảm thông với người khác. Từ đó hiểu được tất cả những điều người khác nghĩ.

– Phê phán những con người sống ích kỉ, hời hợt, vô tâm. Họ không hiểu mình và cũng không hiểu người, sống lạnh nhạt với mọi vấn đề trong cuộc sống.

– Bài học: Nhìn nhận lại bản thân một cách nghiêm túc. Từ đó để thấy ưu, khuyết điểm của mình, hiểu rõ ước mơ, khát vọng của bản thân. Hãy tập để ý quan tâm đến mọi người mình gặp gỡ thường ngày. Từ trong cuộc sống, trong công việc, lắng nghe những điều họ nói, quan sát những việc họ làm.

Kết luận

Hy vọng với các giải đáp trên thì mong là quý độc giả đã biết được cách ” soạn đề văn nghị ” chuẩn và chính xác nhất hiện nay. Các thông tin trên được admin cập nhật cũng như thu thập thông tin từ nhiều nguồn chuẩn xác, hy vọng các bạn sẽ thích và ủng hộ cho Chamhocbai.com.

Bài viết đã được cập nhật mới nhất vào 06/2024!