Updated at: 18-05-2023 - By: Thầy Vũ Xuân Anh

Admin Chăm Học Bài hôm nay sẽ hướng dẫn các bạn cách soạn Diễn đạt trong văn nghị luận siêu ngắn chuẩn nhất 02/2024.

Chi tiết cách soạn Diễn đạt trong văn nghị luận siêu ngắn hay và chuẩn nhất

Phần I

I – CÁCH SỬ DỤNG TỪ NGỮ TRONG VĂN NGHỊ LUẬN

Câu 1

Video hướng dẫn giải

a. Nhận xét về cách dùng từ ngữ:

Đoạn văn 1Đoạn văn 2
Ưu điểmCách dung từ ngắn gọn, giản dị, đi nhanh vào vấn đề cần nghị luậnCách diễn đạt uyển chuyển, linh hoạt, chặt chẽ, giàu hình tượng
Nhược điểmThiếu hấp dẫn, nhiều từ dung chưa chính xácKhá dài dòng, một vài từ ngữ dung chưa chính xác

b. Các từ ngữ không phù hợp trong hai ngữ liệu và cách khắc phục:

– Ngữ liệu (1):

+ “Hẳn ai cũng nghe nói” → hẳn ai cũng từng biết đến.

+ “Nhàn rỗi” → nhàn rỗi bất đắc dĩ.

+ “Bác vốn chẳng thích làm thơ” → Bác vốn không lấy việc sáng tác thơ làm sứ mệnh cuộc đời mình.

+ “vẻ đẹp lung linh” → vẻ đẹp cao quý.

– Ngữ liệu (2): “tinh thần Người vẫn vượt thoát… nhà tù” → tinh thần Người vẫn tự do tự tại, vượt lên trên sự giam hãm của nhà tù.

c. Viết đoạn văn:

Nhật kí trong tù là viên ngọc vô giá Hồ Chí Minh “vô tình” đem đến cho kho tàng thơ ca dân tộc. Nói “vô tình” bởi tập thơ được sáng tác trong những ngày tháng thư nhàn bất đắc dĩ trong nhà tù tàn bạo của bọn Tưởng Giới Thạch. Dù viết văn làm thơ không phải mục đích lớn nhất và dù Người vẫn nói “Ngâm thơ ta vốn không ham” nhưng khi điều kiện, tâm hồn nhạy cảm và đẹp đẽ của Hồ Chí Minh lại tìm đến thơ như một lẽ tự nhiên vô cùng. Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra vẻ đẹp lấp lánh của tâm hồn ấy qua từng thi phẩm trong tập Nhật kí trong tù, tiêu biểu như những bài thơ Chiều tối, Giải đi sớm, Mới ra tù, tập leo núi.

Câu 2 (trang 137 SGK Ngữ văn 12 tập 2)

a. Những từ ngữ in đậm bày tỏ tình cảm trìu mến và sự thấu hiểu, đồng cảm sâu sắc của Xuân Diệu đối với hồn thơ Huy Cận. Những từ ngữ ấy cũng gợi lên ấn tượng sâu đậm về đặc điểm phong cách nghệ thuật thơ Huy Cận, đó là hồn thơ của nỗi buồn vũ trụ, nỗi sầu nhân thế.

b. Các từ ngữ in đậm có sắc thái biểu cảm phù hợp với đối tượng nghị luận bởi:

+ Từ “chàng” phù hợp với độ tuổi trẻ trung của Huy Cận khi sáng tác Lửa thiêng.

+ Các từ ngữ còn lại phù hợp với tâm hồn nhạy cảm, lãng mạn và phong cách nghệ thuật mang cả hứng không gian với nỗi sầu vũ trụ của Huy Cận.

Câu 3

Video hướng dẫn giải

– Từ ngữ không phù hợp và cách khắc phục:

+ “kịch tác gia” → kịch gia.

+ “vĩ đại” → xuất sắc/ưu tú.

+ “Sự tranh chấp…. trong quá trình con người sống” → sự hài hòa, thống nhất…

+ “người ta ai mà chẳng phải” → chúng ta ai cũng cần.

+ “chẳng là gì cả” → cũng không có ý nghĩa gì.

+ “anh chàng” → linh hồn, “anh ta” → Trương Ba.

+ “cũng thế mà thôi” → cũng vậy.

+ “tên hàng thịt” → anh hàng thịt.

+ Anh ta → nhân vật

+ Phát bệnh → dằn vặt, đau khổ.

     Lưu Quang Vũ là một kịch gia ưu tú. Vở kịch Hồn Trương Ba da hàng thịt xứng đáng là một kiệt tác trong kho tàng văn học nước nhà. Nhà văn đã nêu lên một vấn đề có ý nghĩa sâu sắc: sự hài hòa, thống nhất giữa linh hồn và thể xác trong mỗi con người và hướng tới sự hoàn thiện. Thực ra, chúng ta ai cũng cần sống bằng cả linh hồn và thể xác. Linh hồn có cao khiết, đẹp đẽ thế nào cũng không có ý nghĩa gì khi không có thể xác. Linh hồn Trương Ba trong trong vở kịch cũng vậy. Trương Ba không thể sống chỉ bằng phần hồn. Nhưng phần hồn ấy, vì những trớ trêu, éo le của số phận, lại bị nhập vào xác của anh hàng thịt. Chẳng qua đó chỉ là một cái xác “âm u đui mù” nếu không có linh hồn của Trương Ba. Nhưng nó cũng chẳng để cho hồn Trương Ba được yên mà lại còn làm nhân vật đau khổ, dằn vặt vì những đòi hỏi, ham muốn quá quắt của nó.

Câu 4 (trang 138 SGK Ngữ văn 12 tập 2)

* Khi sử dụng từ ngữ trong văn nghị luận cần chú ý những yêu cầu sau:

 Lựa chọn từ ngữ chính xác, phù hợp với vấn đề nghị luận; tránh dùng từ lạc phong cách hoặc từ ngữ sáo rỗng, cầu kì.

– Kết hợp sử dụng các phép tu từ từ vựng và một số từ ngữ mang tính biểu cảm, gợi hình tượng để bộc lộ cảm xúc phù hợp.

Phần II

II – CÁCH SỬ DỤNG KẾT HỢP CÁC KIỂU CÂU TRONG VĂN NGHỊ LUẬN

Câu 1

Video hướng dẫn giải

Câu 1 (trang 138 SGK Ngữ văn 12 tập 2)

a. Cách sử dụng kết hợp các kiểu câu và hiệu quả diễn dạt:

–  Ngữ liệu (1): gồm 7 câu đều sử dụng kiểu câu trần thuật, có sự đan xen giữa câu dài và câu ngắn khác nhau

=> Tạo nên giọng điệu đều đều, ít điểm nhấn.

– Ngữ liệu (2): gồm 11 câu với sự kết hợp của nhiều kiểu câu như câu trần thuật, câu nghi vấn, câu cảm thán, câu đơn, câu ghép

=> Giọng điệu linh hoạt, biểu hiện phong phú cảm xúc của người viết và diễn tả ấn tượng nội dung nghị luận.

b. Trong đoạn văn nghị luận nên sử dụng kết hợp nhiều kiểu câu nhằm đem lại hiệu quả diễn đạt, một mặt tạo nên giọng điệu linh hoạt, uyển chuyển cho đoạn văn mặt khác gây ấn tượng với người đọc với những điểm nhấn nội dung và cảm xúc của người viết.

c. Đoạn ngữ liệu (2) sử dụng biện pháp tu từ: câu hỏi tu từ (nhấn mạnh nỗi đau đớn của Trọng Thủy về cái chết của Mị Châu) và phép điệp

=> Tác dụng: Diễn tả nỗi ân hận, day dứt, mặc cảm tội lỗi như xoáy sâu vào lòng nhân vật Trọng Thủy. Thể hiện thành công đề tài của bài văn, cảm xúc của người viết.

d. Bài văn nghị luận nên sử dụng một số phép tu từ cú pháp nhằm tạo nhịp điệu, nhận mạnh thái độ và cảm xúc của người viết. Các phép tư từ cú pháp thường được sử dụng trong văn nghị luận như phép điệp, câu hỏi tu từ, đảo ngữ, liệt kê…

Ví dụ: Phép lặp cú pháp

– “Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa”.

“Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp”

Câu 2 (trang 139 SGK Ngữ văn 12 tập 2)

a. Đoạn trích chủ yếu sử dụng kiểu câu trần thuật. Kiểu câu này giúp thông báo thông tin một cách nhẹ nhàng, giản dị với cách thức tự sự.

b. Câu văn “Chỉ nghĩ lại cũng đã se lòng” là kiểu câu đặc biệt, khác với các câu văn còn lại. Hiệu quả của câu đặc biệt này là nhấn mạnh cảm xúc xót xa, thương cảm của người viết về đối tượng nghị luận.

Câu 3

Video hướng dẫn giải

Câu 3 (trang 140 SGK Ngữ văn 12 tập 2)

– Ngữ liệu (1): kết hợp nhiều câu có cùng một kiểu kết cấu [Trạng ngữ, Chủ ngữ + Vị ngữ] khiến đoạn văn trở nên khô cứng, lặp lại một cách nhàm chán.

Cách khắc phục:

Qua việc xây dựng tình huống độc đáo, cách khắc họa nhân vật ấn tượng và việc thể hiện tâm trạng, sử dụng hình ảnh giàu ý nghĩa biểu tượng, gợi liên tưởng sâu sắc, Nguyễn Minh Châu đã sáng tạo nên một truyện ngắn đặc sắc. Nhân vật Nhĩ trong Bến quê đã bày tỏ những trăn trở, suy tư của con người trong thời khắc mong manh giữa sự sống và cái chết. Dường như, Nhĩ đã gửi tới người đọc lời nhắn nhủ của tác giả Nguyễn Minh Châu: hãy biết trân trọng những giá trị, những điều bình dị và gần gũi nhất trong cuộc đời.

– Ngữ liệu (2): kết hợp nhiều câu có cùng một chủ ngữ “văn học dân gian” gây ra sự trùng lặp, đơn điệu, khô cứng.

Cách khắc phục:

+ Câu 1: giữ nguyên.

+ Câu 2: thay chủ ngữ “Kho tàng văn học dân gian Việt Nam” bằng cụm từ “Đó là”.

+ Câu 3: Thay thế “Văn học dân gian góp phần” bằng cụm từ “Cuốn bách khoa thư” này có vai trò”.

+ Câu 4: giữ nguyên.

Câu 4 (trang 141 SGK Ngữ văn 12 tập 2)

– Kết hợp một số kiểu câu trong đoạn, trong bài để tạo nên giọng điệu linh hoạt, biểu hiện cảm xúc.

– Sử dụng các phép tu từ cú pháp để tạo nhịp điệu, nhấn mạnh rõ hơn thái độ, cảm xúc.

Câu 5 (trang 136 -137 sgk Ngữ văn 12 Tập 2):

a. Cách dùng từ ngữ hai đoạn văn khác nhau:

Đoạn văn (1)Đoạn văn (2)
Chúng ta hẳn ai cũng nghe nói về…… chúng ta không thể không nhắc tới…
Trong lúc nhàn rỗi rãi…… Trong những thời khắc hiếm hoi được thanh nhàn bất đắc dĩ…
Bác vốn chẳng thích làm thơ…Thơ không phải mục đích cao nhất của…
…vẻ đẹp lung linh… Những vần thơ vang lên… của nhà tù.
Vẻ đẹp ấy thể hiện rõ trong những bài thơ…… là những thi phẩm tiêu biểu cho tinh thần đó.
Đoạn văn (1)Đoạn văn (2)
Ưu điểmNgắn gọn, đi nhanh vào vấn đề cần nghị luận.Cách diễn đạt uyển chuyển linh hoạt, đoạn văn trở nên sinh động, có sức hấp dẫn.
Nhược điểmTừ ngữ dùng ngôn ngữ hàng ngày, từ ngữ dùng còn thô vụngViệc dùng từ ngữ còn chưa chính xác, cách vào vấn đề còn khá dài.

b. Những từ ngữ không phù hợp với đối tượng nghị luận trong các ví dụ trên: hẳn ai cũng nghe nói, nhàn rỗi, (tâm hồn đẹp) lung linh, khổ sở, những bài được làm, tập thơ được viết…

Những từ ngữ này chỉ được sử dụng trong ngôn ngữ nói hàng ngày hoặc không có sự liên kết chặt chẽ nên không phù hợp với đối tượng là văn nghị luận.

Sửa:

+ Hẳn ai cũng nghe nói → Không thể không biết đến (hẳn ai cũng biết đến).

+ Nhàn rỗi → nhàn rỗi bất đắc dĩ.

+ Lung linh → trong sáng .

+ Khổ sở → khó khăn.

+ Những bài được làm → những tác phẩm.

+ Tập thơ được viết→ tập thơ ra đời,…

c.

Nói đến sự nghiệp sáng tác của Hồ Chí Minh chúng ta không thể không biết đến tập thơ “Nhật kí trong tù”. Tập thơ được viết trong một hoàn cảnh đặc biệt, khi Bác bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam một cách vô cớ (từ tháng 8-1942 đến tháng 9-1943). “Nhật kí trong tù” là bức chân dung tự họa con người tinh thần của chủ tịch Hồ Chí Minh vừa kiên cường bất khuất vừa mang vẻ đẹp tâm hồn của người nghệ sĩ. Vẻ đẹp và tinh thần ấy được thể hiện rõ trong các bài thơ: Chiều tối, Giải đi sớm, Mới ra tù, tập leo núi….

Câu 6 (trang 137 sgk Ngữ văn 12 Tập 2):

a.

Những từ in đậm trong đoạn trích biểu hiện niềm đồng cảm sâu sắc với nỗi buồn, sầu trong thơ Huy Cận.

⇒ đối tượng nghị luận: nhà thơ Huy Cận, nhà thơ của nỗi sầu ảo não, triền miên,…

b. Sắc thái biểu cảm của các từ ngữ đó là phù hợp với đối tượng nghị luận của đoạn trích là nhà thơ Huy Cận. Bởi Huy Cận là nhà thơ của những nỗi “sầu vạn kỉ”. Những từ ngữ đó gợi nỗi buồn xa xưa theo suốt thời gian và lan rộng khắp không gian.

Câu 7 (trang 138 sgk Ngữ văn 12 Tập 2):

Những từ ngữ không phù hợp: kịch tác gia vĩ đại, kiệt tác, người ta ai mà chẳng, cũng chẳng là gì cả, anh chàng, anh ta, tên, anh ta, phát bệnh.

Thay thế bằng các từ ngữ thích hợp:

+ Kịch tác gia vĩ đại → cố kịch gia nổi tiếng.

+ Kiệt tác → tác phẩm lớn.

+ Người ta ai mà chẳng → con người.

+ Cũng chẳng là gì cả → cũng trở nên vô nghĩa.

+ Anh chàng → nhân vật

+ Anh ta → ông.

+ Tên hàng thịt → anh hàng thịt.

+ Anh ta → nhân vật

+ Phát bệnh → dằn vặt, đau khổ.

Viết lại đoạn văn

Lưu quang Vũ là một cố kịch gia nổi tiếng. Vở kịch Hồn Trương ba, da hàng thịt xứng đáng là một tác phẩm lớn trong kho tàng văn học nước nhà. Nhà văn đã nêu lên một vấn đề có ý nghĩa sâu sắc: Sự tranh chấp giữa linh hồn và thể xác trong quá trình sống và hướng tới sự hoàn thiện. Thực ra, con người ai chẳng phải sống bằng cả linh hồn và thể xác. Linh hồn có cao khiết, đẹp đẽ thế nào cũng trở nên vô nghĩa khi không có thể xác. Nhân vật Trương Ba trong vở Hồn Trương Ba, da hàng thịt cũng vậy. Ông không thể sống chỉ bằng phần hồn. Phần hồn ấy, vì những trớ trêu, éo le của số phận, lại bị nhập vào xác anh hàng thịt. Chẳng qua đó chỉ là một cái xác “âm u đui mù” nếu không có linh hồn của Trương Ba. Nhưng nó cũng chẳng để cho hồn Trương Ba được yên mà lại còn làm nhân vật đau khổ, dằn vặt vì những đòi hỏi, ham muốn quá quắt của nó.

Câu 8 (trang 138 sgk Ngữ văn 12 Tập 2):

Khi sử dụng từ ngữ trong văn nghị luận cần chú ý:

– Lựa chọn từ ngữ chính xác, phù hợp với vấn đề cần nghị luận, tránh dùng từ lạc phong cách hoặc những từ ngữ sáo rỗng, cầu kì.

– Kết hợp các phép tu từ từ vựng và một số từ ngữ mang tính biểu cảm, gợi hình để bộc lộ cảm xúc cho phù hợp.

III. Cách sử dụng kết hợp các kiểu câu trong văn nghị luận

Câu 1 (trang 138 – 139 sgk Ngữ văn 12 Tập 2):

a.

Đoạn văn (1)Đoạn văn (2)
Sử dụng các kiểu câukiểu câu trần thuậtsử dụng kết hợp nhiều kiểu câu khác nhau: câu trần thuật, câu cảm, câu hỏi
Hiệu quảđơn điệu, nhàm chánrất sinh động, gợi cho người đọc nhiều cảm xúc.

b. Trong một đoạn văn nghị luận nên sử dụng, kết hợp nhiều kiểu câu khác nhau để tạo nên những cung bậc cảm xúc khác nhau cho người đọc, người viết. Điều đó tạo cho đoạn văn sự sinh động, biểu cảm.

c. Đoạn văn (2) sử dụng phép lặp cấu trúc cú pháp: “Cái chết…” (cái chết sám hối. Cái chết trong ân hận muộn mằn. Cái chết với khao khát được chuộc lại lỗi lầm).

⇒ Tác dụng: Diễn tả nỗi ân hận, day dứt, mặc cảm tội lỗi như xoáy sâu vào lòng nhân vật Trọng Thủy. Thể hiện thành công đề tài của bài văn, cảm xúc của người viết.

d. Trong bài văn nghị luận nên sử dụng một số phép tu từ cú pháp để tạo nên những hiệu quả diễn đạt nhất định: thể hiện cảm xúc của người viết, gợi cảm xúc cho độc giả. Những phép tu từ cú pháp thường được sử dụng: phép lặp, liệt kê, chêm xen…

Ví dụ: Phép lặp cú pháp

– “Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa”.

“Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp”

Ví dụ: Phép liệt kê

“Các ngươi ở cùng ta coi giữ binh quyền đã lâu ngày, không có mặc thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho cơm; quan nhỏ thì ta thăng chức, lương ít thì ta cấp bổng; đi thủy thì ta cho thuyền, đi bộ thì ta cấp ngựa, lúc trận mạc xông pha thì cùng ta sống chết, lúc ở nhà nhàn hạ thì cùng nhau vui cười.”

Ví dụ: Phép chiêm xen

Cô bé nhà bên (có ai ngờ)

Cũng vào du kích

Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích

Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi)

Câu 2 (trang 139 – 140 sgk Ngữ văn 12 Tập 2):

Kiểu câuTác dụng
aCâu đơn trần thuật.Kiểu câu trần thuật với chức năng cơ bản của mình đã có hiệu quả trong việc truyền đạt nội dung thông báo.
bCâu văn “Chỉ nghĩ lại cũng đã se lòng” khác với những câu khác trong đoạn trích. Đây là kiểu câu rút gọn, đồng thời cũng là một câu cảm thán.– Khẳng định tình cảnh đó của nhà thơ đều khiến tất cả mọi người se lòng.
– Câu văn gợi sự đồng cảm từ tất cả độc giả của mình.

Câu 3 (trang 140 sgk Ngữ văn 12 Tập 2):

Nhược điểm
Đoạn văn (1)sử dụng và kết hợp các câu có cùng một kết cấu “Qua…” khiến cho việc diễn đạt thiếu linh hoạt. có cảm giác lặp ý, rườm rà.
Đoạn văn (2)sử dụng và kết hợp các câu có cũng một chủ ngữ “Kho tàng văn học dân gian…” hoặc “văn học dân gian…” khiến cho người đọc có cảm giác trùng lặp, nhàm chán.

Câu 4:

a.

– Đoạn văn (1) dùng từ ngữ chưa chuẩn xác, còn sử dụng ngôn ngữ hằng ngày. Nhưng lại có ưu điểm là ngắn gọn, đi nhanh vào vấn đề cần nghị luận.

– Đoạn (2) việc dùng từ ngữ đôi khi không chính xác, cách vào đề còn khá dài. Tuy nhiên, diễn đạt uyển chuyển, linh hoạt, nhờ đó, đoạn văn trở nên sinh động, có sức hấp dẫn.

b.

– Những từ ngữ dùng không phù hợp với đối tượng nghị luận trong các ví dụ trên: hẳn ai cũng nghe nói, nhàn rỗi, (tâm hồn đẹp) lung linh, khổ sở, những bài được làm, tập thơ được viết, những thời khắc hiếm hoi, được thanh nhàn bất đắc dĩ, một cách thật khiêm tốn, vượt thoát.

– Những từ đó thường chỉ được sử dụng trong ngôn ngữ nói hằng ngày nên không phù hợp với đối tượng là văn nghị luận.

– Có thể sửa lại như sau: không thể không biết đến/ (hẳn) ai cũng biết đến, nhàn rỗi bất đắc dĩ, trong sáng, khó khăn, những tác phẩm/ thi phẩm được sáng tác, tập thơ ra đời, thời khắc trớ trêu, “được” thanh nhàn bất đắc dĩ, một cách khiêm tốn, vượt ngục…

c. Có thể tham khảo đoạn văn sau:

Nhắc tới sự nghiệp sáng tác của Hồ Chí Minh, chúng ta không thể không nhắc tới tập Nhật kí trong tù. Tập thơ ra đời trong hoàn cảnh trớ trêu của lịch sử: Bác bị bắt giam trong nhà tù Tưởng Giới Thạch của Trung Quốc. Nhưng giữa chốn lao tù gian khó, hiểm nguy, những vần thơ của Bác thực sự là cuộc vượt ngục về tinh thần. Nội dung đó được thể hiện sâu sắc qua những bài thơ đặc sắc như: Chiều tối; Giải đi sớm; Mới ra tù; Tập leo núi

Câu 5:

– Những từ ngữ dùng không phù hợp: kịch tác gia vĩ đại, kiệt tác, người ta ai mà chẳng, cũng chẳng là gì cả, anh chàng, anh ta, tên.

Câu 6: Những yêu cầu cơ bản của việc dùng từ ngữ trong văn nghị luận:

– Lựa chọn các từ ngữ chính xác, phù hợp với vấn đề cần nghị luận, tránh dùng khẩu ngữ hoặc những từ ngữ sáo rỗng, cầu kì..

– Kết hợp sử dụng những biện pháp tu từ từ vựng (ẩn dụ, hoán dụ, so sánh…) và một số từ ngữ mang tính biểu cảm, gợi hình tượng đế bộc lộ cảm xúc phù hợp.

Kết luận

Hy vọng với các giải đáp trên thì mong là quý độc giả đã biết được cách soạn Diễn đạt trong văn nghị luận siêu ngắn hiện nay. Các thông tin trên được admin cập nhật cũng như thu thập thông tin từ nhiều nguồn chuẩn xác, hy vọng các bạn sẽ thích và ủng hộ cho Chamhocbai.com.

Bài viết đã được cập nhật mới nhất vào 02/2024!