Updated at: 02-04-2023 - By: Thầy Vũ Xuân Anh

Admin Chăm Học Bài hôm nay sẽ hướng dẫn các bạn cách “Soạn bài Kiểm tra về truyện trung đại” chuẩn nhất 02/2024.

Soạn bài Kiểm tra về truyện trung đại- Mẫu 1

Video hướng dẫn giải

Câu 1

Video hướng dẫn giải

Trả lời câu 1 (trang 134 SGK Ngữ văn 9, tập 1)

STT

Tên văn bản (đoạn trích, tác phẩm)

Tác giả

Nội dung chủ yếu

Đặc sắc nghệ thuật

1Chuyện người con gái Nam XươngNguyễn DữPhẩm chất tốt đẹp và số phận oan trái của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiếnKhắc họa quá trình tâm lí và tính cách nhân vật, nghệ thuật kể chuyện sinh động, hấp dẫn
2Chuyện cũ trong phủ chúa TrịnhPhạm Đình HổCuộc sống xa hoa của vua chúa, quan lại phong kiếnNghệ thuật viết tùy bút chân thực, hấp dẫn
3Hoàng Lê Nhất thống chíNgô gia văn pháiVẻ đẹp hào hùng của người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ trong chiến công đại phá quân Thanh, sự thành bại của bọn xâm lược và số phận bi thảm của lũ vua quan phản nước, hại dânLối văn trần thuật đặc sắc kết hợp với miêu tả chân thực, sinh động
4Truyện KiềuNguyễn DuCảm hứng nhân văn, nhân đạo, sự trân trọng sắc đẹp, tài năng, phẩm cách con ngườiBút pháp nghệ thuật ước lệ, nghệ thuật miêu tả và khắc họa hình tượng đắc sắc
5Truyện Lục Vân TiênNguyễn Đình ChiểuKhát vọng cứu đời, giúp người, ca ngợi tinh thần trượng nghĩa, khinh tàiNgôn ngữ mộc mạc, bình dị, lối kể chuyện tự nhiên, sinh động

Câu 2

Video hướng dẫn giải

Trả lời câu 2 (trang 134 SGK Ngữ văn 9, tập 1)

Vẻ đẹp:

– Đẹp ở nhan sắc tài năng.

– Đẹp ở tâm hồn, tình cảm:

+ Hiếu thảo, thủy chung, son sắc.

+ Nhân hậu, vị tha.

+ Luôn khát vọng tự do, coi trọng danh dự.

Bi kịch:

– Đau khổ, oan khuất: Vũ Nương bị nghi oan, không minh oan được, phải gieo mình xuống dòng Hoàng Giang.

– Tình yêu tan vỡ: Thúy Kiều và Kim Trọng đã từng thề nguyền dưới trăng vậy mà bỗng chốc mối tình ấy tan vỡ.

– Nhân phẩm bị chà đạp: Vũ Nương bị chồng nghi ngờ, đến nỗi phải tự vẫn. Thúy Kiều bị coi như một món quà hàng đem ra mua bán, bị giam hãm ở lầu Ngưng Bích trong nỗi cô đơn tuyệt vọng.

Câu 3

Video hướng dẫn giải

Trả lời câu 3 (trang 134 SGK Ngữ văn 9, tập 1)

– Ăn chơi xa hoa, trụy lạc (Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh).

– Hèn nhát, hạ mình trước những kẻ xâm lược dân tộc một cách nhục nhã (Hoàng Lê nhất thống chí).

– Giả dối, bất nhân, vì tiền mà táng tận lương tâm (Mã Giám Sinh mua Kiều).

* Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh:

– Hiện thực đất nước ta trong thời kỳ vua Lê – chúa Trịnh: mục nát, hỗn loạn. Vua chúa ăn chơi hưởng lạc, không quan tâm đến việc triều chính.

– Quan lại không khuyên can mà còn ỷ vào điều đó để lũng loạn thêm.

* Hoàng Lê nhất thống chí: Hèn nhát, bất tài của vua tôi nhà Lê trước tình cảnh đất nước bị giặc ngoại bang xâm lược.

* Mã Giám Sinh mua Kiều:

– Tố cáo xã hội đồng tiền đã đẩy con người vào tình cảnh khổ cực, đau đớn.

– Bày tỏ thái độ căm phẫn trước bọn buôn buôn người giả dối, bất nhân.

Video hướng dẫn giải

Trả lời câu 4 (trang 134 SGK Ngữ văn 9, tập 1)

– Người anh hùng với lý tưởng đạo đức cao đẹp qua hình tượng Lục Vân Tiên (Lục Vân Tiên cửu Kiều Nguyệt Nga).

– Người anh hùng dân tộc qua hình tượng Nguyễn Huệ trong Quang Trung đại phá quân Thanh

+ Lòng yêu nước nồng nàn.

+ Quả cảm, tài trí.

– Nguyễn Huệ (Hoàng Lê nhất thống chí)

– Lục Vân Tiên (đoạn trích Lục Vân Tiên gặp nạn)

Gợi ý:

* Hình ảnh người anh hùng áo vải Quang Trung – Nguyễn Huệ:

– Con người hành động mạnh mẽ, quyết liệt:

  • Chỉ trong vòng một tháng khi quân Thanh chiếm kinh thành Thăng Long đã cho chuẩn bị mọi mặt cho cuộc tiến quân ra Bắc.
  • Tế cáo trời đất, lên ngôi hoàng đế và đổi niên hiệu là Quang Trung.
  • Sau khi lên ngôi hoàng đế, ngay lập tức tự mình đốc suất đại bình, cả thủy lẫn bộ cùng tiến quân ra Bắc.
  • Cho tuyển mộ quân lính ở Nghệ An, mở cuộc duyệt binh lớn và tổ chức lại hàng ngũ đội quân.
  • Đích thân cưỡi voi ra doanh yên ủi quân lính…

– Là người có trí tuệ sáng suốt, có tầm nhìn xa trông rộng:

  • Nhận định được tình hình của ta và địch, đưa ra những quyết định quan trọng.
  • Sáng suốt và nhạy bén trong việc xét đoán và dùng người. Ông biết khen chê đúng người đúng việc.
  • Bĩnh tĩnh, quyết đoán: “Khi nghe tin quân Thanh đã vào Thăng Long, ông không hề lo lắng”. “Ở Tam Điệp, Quang Trung phỏng đoán chính xác tình hình và đánh giá đúng chính sách của Ngô Thì Nhậm”

– Có ý chí kiên cường, biết trọng nhân tài và tài dùng binh như thần:

  • Trước khi xuất quân, tính toán mọi sách lược và tin chắc vào thắng lợi chỉ trong vòng mười ngày, hẹn với quân sĩ ngày mồng 7 năm mới thì vào Thăng Long mời tiệc ăn mừng.
  • “Ở Tam Điệp, Quang Trung phỏng đoán chính xác tình hình và đánh giá đúng sách lược của Ngô Thì Nhậm”.
  • Trong trận chiến: Quang Trung liên tiếp điều binh, khiển tướng và sử dụng những sách lược đã chuẩn bị trước để đánh bại quân Thanh.




=> Như vậy, hình ảnh Quang Trung hiện lên trong Hoàng Lê nhất thống chí là một vị anh hùng dũng cảm, mưu lược cũng như biết thu phục lòng người và trở thành linh hồn của trận chiến.

* Lục Vân Tiên:

a. Lục Vân Tiên đánh bại bọn cướp

– Tình huống: Kiều Nguyệt Nga trên đường bị bọn cướp chặn xe, Lục Vân Tiên tình cờ đi qua thấy vậy liền đến cứu giúp.

– Hành động của Lục Vân Tiên:

  • “Bẻ cây làm gậy nhằm làng xông vô”: sự nhanh trí, gan dạ của Lục Vân Tiên.
  • Kêu rằng: “Bớ đảng hung đồ/Chớ quen làm thói hồ đồ hại dân” – bản lĩnh của một người quân tử, trước khi ra tay chàng đã nêu rõ lý do là vì chính nghĩa, không phải là hành vi đánh lén.
  • Trận đánh diễn ra cay cấn: “bốn phía phủ vây bịt bùng” vô cùng nguy hiểm đối với Lục Vân Tiên.
  • Nhưng chàng vẫn “tả xung hữu đột” chẳng khác nào Triệu Tử phá vòng Đương Dang.

=> Hình ảnh so sánh Lục Vân Tiên với nhân vật anh hùng Triệu Tử cho thấy sức mạnh, tài năng của nhân vật Lục Vân Tiên.

– Kết quả: bốn phía vớ tan, quang gươm giáo tìm đường chạy, thủ lĩnh Phong Lai không kịp trở tay bị Lục Vân Tiên tiêu diệt.

b. Lục Vân Tiên gặp và trò chuyện với Kiều Nguyệt Nga

– Khi nghe tiếng khóc ở trong xe, Lục Vân Tiên hỏi: “Ai than khóc ở trong xe này?”.

– Người bên trong trả lời rõ sự tình: “Tôi thiệt người ngay/Sa cơ nên mới lầm tay hung đồ”.

=> Lục Vân Tiên động lòng trước hoàn cảnh của hai cô gái, khẳng định mình đã dẹp yên bọn cướp.

– Lục Vân Tiên ngăn không cho hai cô gái ra ngoài: “Khoan khoan ngồi đó chớ ra/Nàng là phận gái ta là phận trai”: giữ đúng chuẩn mực đạo đức, nam nữ thụ thụ bất thân.

– Lục Vân Tiên hỏi thăm tên tuổi, xuất thân và lý do vì sao gặp nạn trên đường.

=> Từ ngôn ngữ đến cách nói chuyện thể hiện là một con người có học thức, trọng lễ giáo phong kiến.

– Lục Vân Tiên khi nghe Kiều Nguyệt Nga ngỏ ý báo đáp ân tình thì đã cười và từ chối: “Làm ơn há dễ trông người trả ơn… Làm người thế ấy cũng phi anh hùng”.

=> Thể hiện phương châm sống của một đáng nam nhi: thấy việc nghĩa không làm thì không phải là anh hùng.

Trả lời câu 5 (trang 134 SGK Ngữ văn 9, tập 1)

* Thời đại, gia đình và cuộc đời Nguyễn Du

– Thời đại:

+ Đó là giai đoạn cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX với nhiều biến cố.

+ Đây là giai đoạn lịch sử đầy biến động với hai đặc điểm nổi bật: chế độ phong kiến Việt Nam khủng hoảng trầm trọng, bão táp phong trào nông dân khởi nghĩa nổi lên khắp nơi, đỉnh cao là khởi nghĩa Tây Sơn đánh đổ các tập đoàn phong kiến Lê, Trịnh, Nguyễn, quét sạch hai mươi vạn quân Thanh xâm lược.

+ Trong hoàn cảnh ấy, Nguyễn Du đã sống phiêu bạt nhiều năm trên đất Bắc rồi về ở ẩn tại quê nội Hà Tĩnh , sau đó lại làm quan cho triều Nguyễn.

– Gia đình:

+ Gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan và có truyền thống về văn học.

+ Cha là Nguyễn Nghiễm, đỗ tiến sĩ, từng giữ chức Tể tướng.

+ Anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản cũng từng làm quan to dưới triều Lê – Trịnh.

– Cuộc đời:

+ Nguyễn Du là người có kiến thức sâu rộng, am hiểu văn hóa dân tộc và văn chương Trung Quốc.

+ Cuộc đời từng trải, đi nhiều, tiếp xúc nhiều đã tạo cho Nguyễn Du một vốn sống phong phú và niềm cảm thông sâu sắc với những đau khổ của nhân dân.

+ Nguyễn Du là một thiên tài văn học, một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn.

+ Nhân cách cao đẹp.

Lời giải chi tiết:

– Tiểu sử:

+ Nguyễn Du (1765-1820) quê làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; sinh trưởng trong một gia đình đại quý tộc có truyền thống về văn học.

+ Cuộc đời Nguyễn Du gắn bó sâu sắc với những biến cố lịch sử của giai đoạn cuối thế kỉ XVIII – nửa đầu thế kỉ XIX. Đây là giai đoạn lịch sử đầy biến động với hai đặc điểm nổi bật: chế độ phong kiến Việt Nam khủng hoảng trầm trọng và bão táp phong trào nông dân khởi nghĩa nổi lên khắp nơi.

+ Nguyễn Du sống phiêu bạt nhiều năm trên đất Bắc rồi về ở ẩn tại quê nội Hà Tĩnh, sau đó ra làm quan bất đắc dĩ với triều Nguyễn. Năm 1813-1814 ông được cử làm chánh sứ sang Trung Quốc. Năm 1820 ông được cử làm chánh sứ đi Trung Quốc lần thứ hai nhưng chưa kịp đi thì bị bệnh, mất tại Huế.

– Học vấn: Nguyễn Du là người có kiến thức sâu rộng, am hiểu văn hoá dân tộc và văn chương Trung Quốc. Ông có vốn sống phong phú, niềm thông cảm sâu sắc với những đau khổ của nhân dân.

– Sự nghiệp: Sự nghiệp văn học của Nguyễn Du gồm những tác phẩm có giá trị lớn cả bằng chữ Hán và chữ Nôm.

* Tóm tắt truyện Kiều:

– Phần 1: Gặp gỡ và đính ước

Truyện Kiều kể về cuộc đời của Thúy Kiều – một thiếu nữ tài sắc vẹn toàn nhưng cuộc đời nhiều bất hạnh. Trong một lần du xuân, Kiều vô tình gặp gỡ Kim Trọng và có một mối tình đẹp đẽ bên chàng Kim. Hai người chủ động gặp gỡ và đính ước với nhau.

– Phần 2. Gia biến và lưu lạc

Gia đình Kiều bị nghi oan, cha bị bắt, Kiều quyết định bán mình để chuộc cha. Trước khi bán mình, Kiều trao duyên cho em gái là Thúy Vân. Thúy Kiều bị bọn buôn người là Mã Giám Sinh và Tú Bà lừa bán vào lầu xanh. Sau đó, nàng được Thúc Sinh cứu vớt khỏi cuộc đời kỹ nữ. Những rồi Kiều lại bị Hoạn Thư – vợ Thúc Sinh ghen tuông, đày đọa. Nàng một lần nữa bị rơi vào chốn thanh lâu. Ở đây, Kiều gặp được Từ Hải – một “anh hùng đầu đội trời, chân đạp đất”. Từ Hải lấy Kiều và giúp nàng báo ân báo oán. Do mắc lừa tổng đốc Hồ Tôn Hiến, Kiều vô tình đẩy Từ Hải vào chỗ chết. Đau đớn, nàng trẫm mình xuống sông thì được sư Giác Duyên cứu.

– Phần 3. Đoàn tụ

Lại nói Kim Trọng khi từ Liêu Dương chịu tang chú xong quay về, biết Thúy Kiều gặp phải biến cố thì đau lòng. Chàng kết hôn cùng Thúy Vân nhưng vẫn ngày nhớ đêm mong gặp lại Kiều. Chàng liền quyết tâm đi tìm nàng, gia đình đoàn tụ. Túy Kiều nối lại duyên với Kim Trọng nhưng cả hai đã nguyện ước “duyên đôi lứa cũng là duyên bạn bầy”.

Video hướng dẫn giải

Trả lời câu 6 (trang 134 SGK Ngữ văn 9, tập 1)

– Giá trị nhân đạo của Truyện Kiều qua các đoạn trích đã học:

+ Khẳng định, đề cao giá trị con người (Chị em Thúy Kiều).

+ Lên án, tố cáo thế lực tàn bạo chà đạp lên con người (Mã Giám Sinh mua Kiều).

+ Thương cảm trước những đau khổ, bi kịch của con người (Mã Giám Sinh mua Kiều, Kiều ở lầu Ngưng Bích).

+ Đề cao tấm lòng nhân hậu, đề cao ước mơ công lý chính nghĩa (Thúy Kiều báo ân báo oán).

Trả lời câu 7 (trang 134 SGK Ngữ văn 9, tập 1)

– Thành công nghệ thuật của Truyện Kiều:

+ Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên.

+ Trực tiếp miêu tả thiên nhiên (Cảnh ngày xuân).

+ Tả cảnh ngụ tình (Kiều ở lầu Ngưng Bích).

– Nghệ thuật miêu tả nhân vật :

+ Khắc họa bằng bút pháp nghệ thuật ước lệ (Chị em Thúy Kiều).

+ Khắc họa tính cách nh ân vật qua miêu tả ngoại hình, ngôn ngữ, cử chỉ (Mã Giám Sinh mua Kiều).

+ Miêu tả đời sống nội tâm nhân vật qua ngôn ngữ độc thoại và nghệ thuật tả cảnh ngụ tình (Kiều ở lầu Ngưng Bích).

+ Khắc họa tính cách nhân vật qua ngôn ngữ đôi thoại (Thúy Kiều báo ân báo oán).

Soạn bài Kiểm tra về truyện trung đại- Mẫu 2

Câu 1 (trang 134 sgk Văn 9 Tập 1):

STTTên văn bản (đoạn trích, tác phẩm)Tác giảNội dung chủ yếuĐặc sắc nghệ thuật
1Chuyện người con gái Nam XươngNguyễn DữNỗi oan khuất của Vũ Nương và thấy được số phận đau khổ của người phụ nữ trong xã hội phong kiến và khát vọng về hạnh phúc gia đình của họ.Nghệ thuật kể chuyện với những yếu tố bất ngờ, nghệ thuật xây dựng nhân vật Vũ Nương, yếu tố hoang đường, kỳ ảo.
2Hoàng Lê nhất thống chí- Hồi thứ 14Ngô gia văn pháiHình tượng người anh hùng áo vải Quang Trung trong chiến thắng và sự thất bại thảm hại của quân tướng nhà Thanh và số phận bi đát của vua tôi Lê Chiêu Thống.Khắc hoạ nhân vậ thành công thông qua ngôn ngữ, hành động.
3Chị em Thúy Kiều (trích truyện Kiều)Nguyễn DuĐoạn trích miêu tả về vẻ đẹp của chị em Thúy Kiều tuy đều đẹp đến lý tưởng nhưng mỗi người có một vẻ đẹp riêng và dự báo về số phận mỗi ngườiBút pháp ước lệ, lấy thiên nhiên để gợi tả vẻ đẹp con người.
4Cảnh ngày xuân (trích Truyện Kiều)Nguyễn DuBức tranh thiên trong sáng và cảnh lễ hội nhộn nhịp ngày xuân.Nghệ thuật miêu tả kết hợp với những chi tiết, hình ảnh cụ thể, khái quát, ngôn ngữ sinh động.
5Kiều ở lầu Ngưng Bích (trích Truyện Kiều)Nguyễn DuTâm trạng cô đơn, buồn tủi nỗi nhớ người thân của Kiều khi bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích.Bút pháp tả cảnh ngụ tình kết hợp với miêu tả nội tâm nhân vật.
6Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga (trích Truyện Lục Vân Tiên)Nguyễn Đình ChiểuĐoạn trích thể hiện khát vọng hành đạo giúp đời của trang quân tử và thể hiện đạo lí vì nghĩa cao cả của người anh hùng,cũng là của tác giả.Miêu tả nhân vật qua cử chỉ, hành động, lời nói. Ngôn ngữ mộc mạc, mang đậm màu sắc địa phương Nam Bộ.

Câu 2 (trang 134 sgk Văn 9 Tập 1): Vẻ đẹp và số phận đầy bi kịch của người phụ nữ qua tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ và qua đoạn trích Truyện Kiều (Nguyễn Du)

* Vẻ đẹp:

– Trong Chuyện người con gái Nam Xương: mở đầu tác phẩm, Vũ Nương được giới thiệu là người phụ nữ dung hạnh vẹn toàn, phẩm chất ấy được biểu hiện qua những tình huống cụ thể (bước vào cuộc sống gia đình, khi chồng đi lính, khi chồng nghi oan…) → Nàng là hình mẫu tiêu biểu cho người phụ nữ Việt Nam.

– Trong đoạn trích Truyện Kiều: Vẻ đẹp tuyệt vời của chị em Thúy Kiều, nhất là ở Thúy Kiều không chỉ nổi bật ở nhan sắc “nghiêng nước nghiêng thành” mà còn ở tài năng “cầm – kì – thi họa”. Không chỉ vậy, Kiều còn là một người con gái hiếu thảo, sẵn sàng hi sinh để cứu cha mẹ, gia đình, trọng ân nghĩa, rộng lượng, khoan dung.

* Đều mang số phận bi kịch của người phụ nữ:

– Vì thói ghen tuông của người chồng mà Vũ Nương và xã hội phong kiến nam quyền mà nàng phải chọn lấy cái chết để rửa oan cho phẩm tiết của mình. Mặc dù cuối chuyện nàng được giải oan nhưng nàng mãi mãi không thể trở về trần gian được, hạnh phúc đã mất đi cũng thể tìm lại được.

– Thúy Kiều là người phụ nữ tài sắc vẹn toàn đáng ra phải được hưởng hạnh phúc nhưng nàng cũng gặp những gian truân, vất vả trên con thuyền mười lăm năm lưu lạc “Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”, nàng bị dày vò cả về thân xác lẫn tinh thần. Cũng giống với Nũ Nương, Kiều từng gieo mình xuống bến sông Tiền Đường để giải thoát kiếp sống ê chề, đau đớn. Dù Kiều được cứu, được đoàn tụ trở về với gia đình, gặp lại người yêu nhưng nó vẫn mang những nỗi đau xót xa, dư vị bi kịch.

Câu 3 (trang 134 sgk Văn 9 Tập 1):

Bộ mặt xấu xa, thối nát của giai cấp thống trị trong xã hội phong kiến được biểu hiện:

– Qua văn bản Chuyện cũ trong phủ Chúa Trịnh (Phạm Đình Hổ): Vua chúa ăn chơi xa hoa, tốn kém, bọn quan lại tham lam, nhũng nhiễu, vơ vét của cải của nhân dân.

– Hoàng lê nhất thống chí (Hồi thứ mười bốn): hèn nhát, xu nịnh ngoại bang đi ngược với truyền thống của dân tộc.

– Mã Giám Sinh mua Kiều: giả dối, đê tiện, hiện thân của xã hội đồng tiền thối nát…

Câu 4 (trang 134 sgk Văn 9 Tập 1):

Hình tượng nhân vật Nguyễn Huệ (Hoàng lê nhất thống chí (Hồi thứ mười bốn):

– Là người có trí tuệ sáng suốt, hành động mạnh mẽ, quyết đoán, có tầm nhìn xa trông rộng, tài dùng binh như thần…

– Vẻ đẹp oai phong lẫm liệt của người anh hùng trong chiến trận: một vị tổng chỉ huy dẫn đầu đoàn quân đánh đồn Ngọc Hồi. Đặc biệt hình ảnh vua Quang Trung cưỡi voi đốc thúc đại binh như một tượng đài sừng sững có một không hai trong lịch sử.

Hình tượng nhân vật Lục Vân Tiên (Đoạn trích Lục vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga):

– Dũng cảm, xả thân vì nghĩa.

– Ân cần hỏi han giúp đỡ người bị nạn, cư xử tế nhị của một trang nam tử.

⇒ Là hình ảnh đẹp của một trang anh hùng dẹp loạn, là hiện thân của lý tưởng nhân nghĩa, là hình bóng, mơ ước của Nguyễn Đình Chiểu.

Câu 5 (trang 134 sgk Văn 9 Tập 1):

Những nét chính về thời đại, gia đình, cuộc đời Nguyễn Du

– Nguyễn Du (1765 – 1820) tên chữ Tố Như, hiệu Thanh Hiên, quê ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.

– Gia đình: Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan và có truyền thống về văn học.

– Thời đại sinh sống: Nguyễn Du gắn với một giai đoạn lịch sử đầy những biến động dữ dội nên ông đã nếm trải không ít những thăng trầm của cuộc sống.

– Cuộc đời bản thân:

+ Mồ côi khi mới lên 10 tuổi.

+ Nhiều năm lưu lạc, am hiểu về đời sống con người.

+ Từng đi sứ Trung Quốc.

⇒ Những trải nghiệm đó đã giúp nhà thơ gần gũi, thấu hiểu con người.

Tóm tắt Truyện Kiều:

Thúy Kiều là một thiếu nữ tài sắc vẹn toàn sống êm ấm trong một gia đình trung lưu bên cạnh cha mẹ và hai em là Thúy Vân, Vương Quan. Trong buổi du xuân nhân tiết Thanh minh, Kiều gặp Kim Trọng, hai người chủ động, tự do đính ước với nhau.

Khi Kim Trọng về quê chịu tang chú, gia đình Kiều bị mắc oan, Kiều phải bán mình chuộc cha. Thúy Kiều lần lượt bị Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh lừa gạt, đẩy vào lầu xanh. Sau đó, nàng được Thúc sinh cứu vướt khỏi cuộc đời kĩ nữ nhưng lại bị vợ của Thúc Sinh là Hoạn Thư ghen tuông, đày đọa. Kiều phải trốn đi nương nhờ nơi cửa Phật. Sư Giác Duyên vô tình gửi nàng cho Bạc Bà

– một kẻ buôn người khác như Tú Bà và nàng lại rơi và lầu xanh lần thứ 2. Tại đây, Kiều gặp Từ Hải, nàng được chàng cứu thoát và lấy làm vợ, giúp Kiều báo ân báo oán. Do mắc lừa quan Tổng đốc trọng thần Hồ Tôn Hiến, Từ Hải bị giết còn Kiều bị ép gả cho tên thổ quan. Thúy Kiều tủi nhục trẫm mình ở sông Tiền Đường nhưng được sư Giác Duyên cứu, nương nhờ cửa phật lần thứ 2.

Kim Trọng khi trở lại, chàng kết duyên cùng Thúy Vân nhưng vẫn lặn lội tìm Kiều. Nhờ sư Giác Duyên, Kim – Kiều gặp lại nhau, gia đình đoàn tụ, cả hai nối lại duyên xưa nhưng cùng nguyện ước “duyên đôi lứa cũng là duyên bạn hầy”.

Câu 6 (trang 134 sgk Văn 9 Tập 1): Giá trị nhân đạo của Truyện Kiều

– Ca ngợi, khẳng định vẻ đẹp, tài năng và phẩm chất con người đặc biệt là người phụ nữ.

– Đề cao tấm lòng cao đẹp, tài năng, khát vọng chân chính của con người như khát vọng sống, khát vọng tự do, khát vọng tình yêu, hạnh phúc…

– Thương cảm cho những bi kịch, khổ đau của con người đặc biệt người phụ nữ.

– Tố cáo các thế lực tàn bạo, xã hội phong kiến trà đạp lên quyền sống và hạnh phúc của con người.

Câu 7 (trang 134 sgk Văn 9 Tập 1): Nghệ thuật Truyện Kiều:

– Sử dụng thể thơ lục bát truyền thống dân tộc.

– Nghệ thuật miêu tả nhân vật:

+ Miêu tả chân dung nhân vật bằng bút pháp ước lệ, tượng trưng.

+ Sử dụng thành công biện pháp tả cảnh ngụ tình, miêu tả nội tâm nhân vật.

+ Khắc họa tính cách nhân vật thông qua ngôn ngữ đối thoại và hành đông.

– Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên: thiên nhiên làm chuẩn mực của cái đẹp, lấy thiên nhiên để miêu tả tâm trạng con người…

– Ngôn ngữ chọn lọc, mẫu mực, sử dụng từ Hán Việt, điển tích điển cố…

Soạn bài Kiểm tra về truyện trung đại- Mẫu 3

1 – Trang 134 SGK

Lập bảng thống kê, ghi những kiến thức cần thiết và từng cột theo mẫu […]

Trả lời

Số TTTên văn bảnTác giảNội dung chủ yếuĐặc sắc nghệ thuật
1Chuyện người con gái Nam XươngNguyễn DữQua cuộc đời của Vũ Nương, Nguyễn Dữ tố cáo cuộc chiến tranh phi nghĩa đã làm tan vỡ hạnh phúc lứa đôi. Phê phán thói ghen tuông mù quáng, tính độc quyên gia trưởng của đàn ông trong gia đình, vấn đề muôn thuở của mọi thời đại. Khẳng định vẻ đẹp tâm hồn truyền thống của người phụ nữ Việt Nam, đồng thời thể hiện sự cảm thông sâu sắc với khát vọng hạnh phúc cũng như bị kịch của người phụ nữ trong xã hội xưa.Tác phẩm cũng là sự suy ngẫm, day dứt trước sự mong manh của hạnh phúc trong kiếp người đầy bất trắc.Sáng tạo trong xây dựng nhân vật, cách kể chuyện, chọn tình huống, sự đan xen thực ảo một cách nghệ thuật, mang tính thẩm mĩ cao, kết thúc không sáo mòn. Khai thác hiệu quả vốn văn học dân gian. Phối hợp hài hòa giữa chất hiện thực (câu chuyện được lưu truyền trong dân gian) với những nét nghệ thuật đặc trưng của thể loại truyền kì (yếu tố kì lạ hoang đường). Xứng đáng là một áng “Thiên cổ kì bút”
2Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh (Vũ trung tùy bútPhạm Đình HổPhản ánh đời sống xa hoa vô độ, sự nhũng nhiễu nhân dân của bạn vua chúa quan lại phong kiến thời vua Lê chúa Trịnh suy tàn. Qua đó lên án, phê phán của tác giả. Tác phẩm vừa có giá trị văn học vừa có giá trị lịch sử sâu sắc.Ghi chép theo cảm hứng sự việc, câu chuyện con người đương thời một cách cụ thể, chân thực, sinh động. Chi tiết, tình tiết, mẩu chuyện rất đậm đà và sâu sắc.
3Hồi thứ 14 của Hoàng Lê nhất thống chíNgô gia văn pháiTrong đoạn trích, hình tượng Nguyễn Huệ nổi lên sáng ngời phẩm chất của người anh hùng với chiến dịch hành quân thần tốc, giải phóng Thăng Long. Sự bạc nhược của vua tôi nhà Lê và sự kiêu căng, tự mãn cùng những thất bại thảm hại của quân Thanh. Qua đó ca ngợi người anh hùng dân tộc tài ba Nguyễn Huệ, khẳng định quyết tâm của dân tộc ta chống xâm lược bảo vệ nền độc lập vững bền.Tiểu thuyết lịch sử chương hồi viết bằng chữ Hán; cách kế chuyện nhanh gọn, chọn lọc sự việc và trình tự kế theo diễn biển sự kiện. Khắc họa nhân vật chủ yếu qua hành động và lời nói bằng ngôn ngữ tả, kế sinh động. Giọng trần thuật thế hiện rõ thái độ với nhà Lê, quân xâm lược và người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ – Quang Trung.
4Truyện KiềuNguyễn DuCuộc đời, vai trò, vị trí của Nguyễn Du trong lịch sử văn học Việt Nam; cảm hứng nhân văn, nhân đạo của Truyện Kiều.Bút pháp ước lệ, nghệ thuật miêu tả và khắc họa hình tượng nhân vật đặc sắc
5Chị em Thúy KiềuNguyễn DuMiêu tả vẻ đẹp của hai chị em Thúy Kiều và Thúy Vân, Nguyễn Du đã giúp bạn đọc hình dung được những chuẩn mực về vẻ đẹp của người phụ nữ trong xã hội xưa, đó cũng có thể coi là chuẩn mực của cái đẹp trong của văn học trung đại.
Không chỉ miêu tả những hình mẫu, chân dung Thúy Kiều và Thúy Vân, đoạn trích còn thể hiện những dụng ý nghệ thuật sâu xa của tác giả. Mặc dù “Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười” nhưng với mỗi nhân vật, sự miêu tả của Nguyễn Du dường như đã dự báo những số phận khác nhau của hai chị em. Đoạn trích bộc lộ cảm hứng nhân đạo sâu sắc của tác giả.
Vận dụng khéo léo ngôn ngữ dân tộc kết hợp với nghệ thuật miêu tả ước lệ, tượng trưng các điển tích, điển cố, bút pháp miêu tả nhân vật khá sắc sảo, tài tình, nghệ thuật đòn bẩy.
6Cảnh ngày xuânNguyễn Du– Đoạn trích tái hiện cảnh ngày xuân trong tiết tháng 3 (Thanh minh) và cảnh du xuân của chị em Thúy Kiều. Trong đoạn trích tác giả đã vẽ bức họa về cảnh sắc mùa xuân trong tiết thanh minh và cảnh du xuân của trai tài gái sắc. Bức tranh thiên nhiên mùa xuân ấy đẹp đẽ, khoáng đạt, tinh khôi thanh khiết, mới mẻ và đầy sức sống, cảnh lễ hội mùa xuân tưng bừng náo nhiệt. Tâm trạng xôn sang náo nức của chị em Thúy Kiều khi đi hội, buồn lưu luyến bâng khuâng khi trở về. Qua đây ta thấy Nguyễn Du là người yêu thiên nhiên, hiểu lòng người có lòng khi miêu tả. Đoạn thơ đem đến cho chúng ta cảm nhận được không khí mùa xuân, phong tục dân gian của dân tộc trong đời sống tâm linh, giúp ta thêm yêu thiên nhiên quê hương đất nước.– Đoạn thơ có kết cấu hợp lý theo trình tự thời gian của cuộc du xuân. Cảnh được miêu tả theo trình tự không gian. Có sự kết hợp giữa miêu tả và gợi. Sử dụng biện pháp nghệ thuật ẩn dụ – nhân hóa. Cách sử dụng từ ghép, từ láy giàu chất tạo hình.Với bút pháp ước lệ tượng trưng cảnh vật hiện lên rất sống động, gần gũi. Ngôn ngữ thơ đậm đà tính dân tộc.
7Kiều ở lầu Ngưng BíchNguyễn DuĐoạn trích tái hiện cảnh Mã giám Sinh đến hỏi Kiều làm vợ, nhưng thực chất là để mua Kiều. Bằng hình dáng bảnh bao và động tác số sàng, Mã Giám Sinh đã cò kè mặc cả biến một 1 người con gái tài sắc tuyệt trần như Kiều trở thành một món hàng trong một cuộc mua bán. Là một bức tranh hiện thực về xã hội xấu xa, con người bị biến thành hàng hóa, đồng tiền và những thế lực tàn bạo đã chà đạp lên tất cả. Đoạn trích thể hiện tấm lòng cảm thương, xót xa trước thân phận nhỏ nhoi của con người bị chà dập. Qua đó vạch trần thực trạng xã hội đen tối, thế lực và đồng tiền lộng hành gián tiếp lên án thế lực phong kiến đã đẩy con người vào tình cảnh đau đớn. Bày tỏ thái độ căm phẫn, khinh bị trước bọn buôn người, giả dối, bất nhân.Nghệ thuật miêu tả nhân vật của tác giả: Khắc họa tính cử chỉ. Lựa chọn ngôn ngữ và chi tiết phù hợp.
8Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt NgaNguyễn Đình ChiểuNghe tin triều đình mở khoa thi, Lục Vân Tiên từ giã thầy xuống núi đua tài, Trên đường về nhà thăm cha mẹ, gặp bọn cướp hoành hành, Lục Vân Tiên đã một mình đánh tan bọn cướp, cứu được Kiều Nguyệt Nga. Sau đó, Vân Tiên tiếp tục cuộc hành trình. Đoạn trích đã khắc họa những phẩm chất đẹp đẽ của hai nhân vật: Lục Vân Tiên tài ba dũng cảm, trọng nghĩa khinh tài, Kiều Nguyệt Nga hiền hậu, nết na, ân tình. Tác giả cũng bày tỏ ước mơ về một người anh hùng, hành đạo, cứu đời.Nghệ thuật miêu tả nhân vật: Chủ yếu mô tả qua hành động, cử chỉ, lời nói, đây là cách khắc họa tính cách nhân vật của trụ cổ dân gian. Ngôn ngữ người kể chuyện mộc mạc, bình dị, mang tính chất khẩu ngữ, phù hợp với diễn biến tình tiết, mang màu sắc, Nam Bộ, có khả năng phổ biến rộng rãi trong nhân dân lao động.
9Lục Vân Tiên gặp nạnNguyễn Đình Chiểu– Đoạn trích kế lại việc Vân Tiên bị Trịnh Hâm hãm hại, được sự cứu giúp vô tư của gia đình ngư ông. Qua trích đoạn này, ta thấy từ sự đối lập giữa thiện và ác. Thái độ tác giả đây cũng rất rõ ràng: ông hết lòng thương yêu những con người có nhân cách cao thượng như Lục Vân Tiên, Kiêu Nguyệt Nga, ông ngư…, ghét cay ghét đắng những kẻ xấu, kẻ ác như bọn cướp, Trịnh Hâm, Bùi Kiệm… Hết lòng tin tưởng nơi nhân dân lao động, những người tuy nghèo khổ nhưng đầy lòng nhân hậu, vị tha, trọng nghĩa khinh tài. Bộc lộ mơ ước của tác giả về cuộc sống tự do, phóng khoáng giữa thiên nhiên.Sắp xếp các tình tiết hợp lí, diễn biến hành động nhanh gọn, lời thơ vẫn giữ được vẻ mộc mạc, giản dị vốn có của tác phẩm. Khắc họa các nhân vật đối lập thông qua lời nói, cử chỉ, hành động.

2 – Trang 134 SGK

Phân tích vẻ đẹp và số phận đầy bi kịch của người phụ nữ qua tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương và qua các đoạn trích Truyện Kiều.

Gợi ý

a, Vẻ đẹp của người phụ nữ trong hai tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương và Truyện Kiều

– Đẹp về cả nhan sắc và tâm hồn:

  • Kiều: hiếu thảo với cha mẹ, thủy chung với người yêu
  • Vũ Nương: thủy chung với chồng, chăm sóc mẹ già, và con nhỏ chu đáo
  • Luôn nhân hậu, vị tha, có khát vọng về hạnh phúc, công lý, chính nghĩa

b, Bi kịch

– Đau khổ, oan khuất:

  • Vũ Nương bị nghi oan, không minh oan được, phải gieo mình xuống dòng Hoàng Giang
  • Tình yêu tan vỡ: Thúy Kiều không thể trọn vẹn mối tình với Kim Trọng, cuộc đời Kiều lưu lạc 15 năm, trải qua nhiều cay đắng, đau khổ

– Nhân phẩm bị chà đạp: Vũ Nương bị chồng mắng mỏ, phải tự vấn. Thúy Kiều bị coi như món hàng hóa.

3 – Trang 134 SGK

Bộ mặt xấu xa, thối nát của giai cấp thống trị, của xã hội phong kiến được thể hiện như thế nào qua các văn bản Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh, Hoàng Lê nhất thống chí (Hồi thứ mười bốn), Mã Giám Sinh mua Kiều ?

Trả lời

Xã hội phong kiến Việt Nam thế kỉ XVIII bước vào sự khủng hoảng trầm trọng, bộc lộ tất cả những xấu xa, tồi tệ:

  • Đồng tiền lộng hành uy hiếp cuộc sống của người dân lương thiện (Mã Giám Sinh mua Kiều).
  • Những kẻ có tiền táng tận lương tâm. Đồng thời là tiếng nói thương cảm trước số phận và bi kịch của con người, tố cáo những thế lực xấu xa, khẳng định đề cao tài năng, phẩm chất và những khát vọng chân chín của con người. (Mã Giám Sinh).
  • Vua chúa quan lại ăn chơi, trụy lạc, thi nhau hà hiếp bóc lột dân lành (Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh).
  • Giai cấp thống trị bạc nhược, tham sống sợ chết, phản dân hại nước. Đồng thời, Tái hiện chân thực hình ảnh tuyệt đẹp về người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ trong công cuộc đại phá quân Thanh và sự thất bại thảm hại của bọn cướp nước, bán nước. (Hoàn Lê Nhất thống chí – Hồi thứ 14).

4 – Trang 134 SGK

Phân tích hình tượng các nhân vật:

– Nguyễn Huệ (đoạn trích Hoàng Lê nhất thống chí (Hồi thứ mười bốn).

– Lục Vân Tiên (đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga).

Trả lời

A. Nhân vật Nguyễn Huệ

1. Trước hết Quang Trung là một con người hành động mạnh mẽ quyết đoán:

– Từ đầu đến cuối đoạn trích, Nguyễn Huệ luôn luôn là con người hành động một cách xông xáo, nhanh gọn có chủ đích và rất quả quyết.

– Nghe tin giặc đã đánh chiếm đến tận Thăng Long mất cả một vùng đất đai rộng lớn mà ông không hề nao núng “định thân chinh cầm quân đi ngay”.

– Rồi chỉ trong vòng hơn một tháng, Nguyễn Huệ đã làm được bao nhiêu việc lớn: “tế cáo trời đất”, lên ngôi hoàng đế, dốc xuất đại binh ra Bắc…

2. Đó là một con người có trí tuệ sáng suốt và nhạy bén:

* Ngay khi mấy chục vạn quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị hùng hổ kéo vào nước ta, thế giặc đang mạnh, tình thế khẩn cấp, vận mệnh đất nước “ngàn cân treo sợi tóc”, Nguyễn Huệ đã quyết định lên ngôi hoàng đế để chính danh vị, lấy niên hiệu là Quang Trung.

Việc lên ngôi đã được tính kỹ với mục đích thống nhất nội bộ, hội tụ anh tài và quan trọng hơn là “để yên kẻ phản trắc và giữ lấy lòng người”, được dân ủng hộ.

* Sáng suốt trong việc nhận định tình hình địch và ta:

– Qua lời dụ tướng sĩ trước lúc lên đường ở Nghệ An, Quang Trung đã chỉ rõ “đất nào sao ấy” người phương Bắc không phải nòi giống nước ta, bụng dạ ắt khác”. Ông còn vạch rõ tội ác của chúng đối với nhân dân ta: “Từ đời nhà hán đến nay, chúng đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại dân ta, vơ vét của cải, người mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi”.

– Quang Trung đã khích lệ tướng sĩ dưới quyền bằng những tấm gương chiến đấu dũng cảm chống giặc ngoại xâm giành lại độc lập của cha ông ta từ ngàn xưa như: Trưng nữ Vương, Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành…

– Quang Trung đã dự kiến được việc Lê Chiêu Thống về nước có thể làm cho một số người Phù Lê “thay lòng đổi dạ” với mình nên ông đã có lời dụ với quân lính chí tình, vừa nghiêm khắc: “các người đều là những người có lương tri, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực để dựng lên công lớn. Chớ có quen thói cũ, ăn ở hai lòng, nếu như việc phát giác ra sẽ bị giết chết ngay tức khắc, không tha một ai”.

* Sáng suốt trong việc xét đoán bê bối:

– Trong dịp hội quân ở Tam Điệp, qua lời nói của Quang Trung với Sở và Lân ta thấy rõ: Ông rất hiểu việc rút quân của hai vị tướng giỏi này. Đúng ra thì “quân thua chém tướng” nhưng không hiểu lòng họ, sức mình ít không địch nổi đội quân hùng tướng hổ nhà Thanh nên đành phải bỏ thành Thăng Long rút về Tam Điệp để tập hợp lực lượng. Vậy Sở và Lân không bị trừng phạt mà còn được ngợi khen.

– Đối với Ngô Thì Nhậm, ông đánh giá rất cao và sử dụng như một vị quân sĩ “đa mưu túc trí” việc Sở và Lân rút chạy Quang Trung cũng đoán là do Nhậm chủ mưu, vừa là để bảo toàn lực lượng, vừa gây cho địch sự chủ quan. Ông đã tính đến việc dùng Nhậm là người biết dùng lời khéo léo để dẹp việc binh đao.

3. Quang Trung là người có tầm nhìn xa trông rộng:

– Mới khởi binh đánh giặc, chưa giành được tấc đất nào vậy mà vua Quang Trung đã nói chắc như đinh đóng cột “phương lược tiến đánh đã có tính sẵn”.

– Đang ngồi trên lưng ngựa, Quang Trung đã nói với Nhậm về quyết sách ngoại giao và kế hoạch 10 tới ta hoà bình. Đối với địch, thường thì biết là thắng việc binh đao không thể dứt ngay được vì xỉ nhục của nước lớn còn đó. Nếu “chờ 10 năm nữa ta được yên ổn mà nuôi dưỡng lực lượng, bấy giờ nước giàu quân mạnh thì ta có sợ gì chúng”.

4. Quang Trung là vị tướng có tài thao lược hơn người:

– Cuộc hành quân thần tốc do Quang Trung chỉ huy đến nay vẫn còn làm chúng ta kinh ngạc. Vừa hành quân, vừa đánh giặc mà vua Quang Trung hoạch định kế hoạch từ 25 tháng chạp đến mùng 7 tháng giêng sẽ vào ăn tết ở Thăng Long, trong thực tế đã vượt mức 2 ngày.

– Hành quân xa, liên tục như vậy nhưng đội quân vẫn chỉnh tề cũng là do tài tổ chức của người cầm quân.

5. Hình ảnh vị vua lẫm liệt trong chiến trận

– Vua Quang Trung thân chinh cầm quân không phải chỉ trên danh nghĩa. Ông làm tổng chỉ huy chiến dịch thực sự.

– Dưới sự lãnh đạo tài tình của vị tổng chỉ huy này, nghĩa quân Tây Sơn đã đánh những trận thật đẹp, thắng áp đảo kẻ thù.

– Khí thế đội quân làm cho kẻ thù khiếp vía và hình ảnh người anh hùng cũng được khắc hoạ lẫm liệt: trong cảnh “khói tỏ mù trời, cách gang tấc không thấy gì” nổi bật hình ảnh nhà vua “cưỡi voi đi đốc thúc” với tấm áo bào màu đỏ đã sạm đen khói súng.

– Hình ảnh người anh hùng được khắc hoạ khá đậm nét với tính cách mạnh mẽ, trí tuệ sáng suốt, nhạy bén, tài dùng binh như thần; là người tổ chức và là linh hồn của chiến công vĩ đại.

B. Nhân vật Lục Vân Tiên

Luận điểm 1: Lục Vân Tiên là chàng trai dũng cảm, nghĩa hiệp

– Hành động đánh cướp:

+ Lục Vân Tiên một mình dùng tay không đánh lại bọn cướp đông người gươm giáo đầy đủ, thanh thế lẫy lừng.

+ “Bẻ cây làm gậy, nhằm làng xông vô” -> Hành động khẩn trương, không so đo tính toán

+ “Kêu rằng bớ đảng hung đồ” : gọi tên; trách mắng -> Cách đánh cướp công khai như các anh hùng hảo hán

+ “Tả đột hữu xung” : Chủ động tung hoành lâm trận

-> Cho dù bọn cướp có hung dữ và ngang tàn nhưng Lục Vân Tiên vẫn đánh bằng võ nghệ của mình.

=> Lục Vân Tiên rất dũng cảm, mạnh mẽ và anh hùng, mang cái đức và vẻ đẹp của một đức tướng tài ba.

* Luận điểm 2: Lục Vân Tiên là người chính trực, không màng danh lợi

– Cách cư xử đối với Kiều Nguyệt Nga:

+ “Khoan khoan ngồi đó chớ ra” -> Lục Vân Tiên rất ân cần với Kiều Nguyệt Nga, coi trọng danh dự và bổn phận

+ “Ta đã trừ dòng lâu la”, “Tiểu thư con gái nhà ai”; “Tên họ là chi” -> Ân cần hỏi han, an ủi, chăm sóc chu đáo cho hai cô gái bị nạn.

+ “Làm ơn há dễ cho người trả ơn”; “Nhớ câu kiến nghĩa bất vi… phi anh hùng” -> Quan điểm của Lục Vân Tiên: giúp đỡ người gặp nạn là điều phải làm, không mong trả ơn.

+ Từ chối, lạy tạ lời mời của Nguyệt Nga về nhà nàng để cho nàng đền đáp. -> Cách từ chối hết sức tôn trọng và tỏ rõ khí phách của một vị anh hùng.

-> Cách cư xử mang tinh thần hiệp nghĩa của các anh hùng hảo hán, thấy việc nghĩa thì làm, coi việc nghĩa là bổn phận, không màng tiền tài, danh lợi.

=> Lục Vân Tiên là một người rất chính trực, anh hùng, chính nghĩa và nhân hậu, gửi gắm niềm tin và ước mong của nhân dân ta đem đến một xã hội công bằng.

5 – Trang 134 SGK

Nêu những nét chính về thời đại, gia đình và cuộc đời Nguyễn Du. Tóm tắt Truyện Kiều.

Trả lời

– Gia đình

  • Nguyễn Du (1765 – 1820) tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên quê ở Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh.
  • Gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan và có truyền thống về văn học: cha là Nguyễn Nhiễm, đỗ tiến sĩ, từng giữ chức Tể tướng; anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản từng làm quan to dưới triều Lê – Trịnh. Nhưng sớm mồ côi cha mẹ (mồ côi cha từ năm 9 tuổi, mồ côi mẹ từ năm 12 tuổi). Hoàn cảnh gia đình cũng có tác động đến sáng tác của Nguyễn Du.

– Thời đại

  • Cuộc đời Nguyễn Du gắn bó sâu sắc với những biến cố lịch sử của giai đoạn cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX. Các tập đoàn phong kiến Lê – Trịnh – Nguyễn tranh giành quyền lực
  • Chế độ phong kiến Việt Nam khủng hoảng trầm trọng, xã hội rối ren, cuộc sống của nhân dân cơ cực, lầm tham.
  • Phong trào khởi nghĩa diễn ra khắp nơi, tiêu biểu nhất chính là khởi nghĩa Tây Sơn do Quang Trung Nguyễn Huệ lãnh đạo.
  • Nghĩa quân Tây Sơn đã đánh đổ tập đoàn phong kiến Trịnh, Lê, Nguyễn, quét sạch hai mươi vạn quân xâm lược nhà Thanh sang xâm lược.

Cuộc đời:

  • Nguyễn Du đã phải sống phiêu bạt nhiều năm ở đất Bắc (1786-1796) rồi sau đó về ở ẩn ở Hà Tĩnh (1796-1802).
  • Nguyễn Ánh lên ngôi mời ông ra làm quan, bất đắc dĩ ông phải nhận lời (1802). Ông từng được cử làm chánh sứ sang Trung Quốc, chuẩn bị đi lần thứ hai thì bị bệnh mất ở Huế.
  • Cuộc đời phiêu bạt: sống phiêu bạt nhiều nơi trên đất Bắc, ở ẩn ở Hà Tĩnh, làm quan dưới triều Nguyễn, đi sứ Trung Quốc… Vốn hiểu biết sâu rộng, phong phú về cuộc sống của Nguyễn Du có phần do chính cuộc đời phiêu bạt, trải nghiệm nhiều tạo thành.

==> Nguyễn Du là người có kiến thức sâu rộng vốn sống phong phú, am hiểu nền văn hóa dân tộc đặc biệt là niềm thương cảm sâu sắc với những đau khổ của nhân dân, là một thiên tài văn học, một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn.

Xem thêm: Tóm tắt Truyện Kiều

6 – Trang 134 SGK

Qua các đoạn trích Chị em Thuý Kiều, Kiều ở lầu Ngưng Bích, Mã Giám Sinh mua Kiều , Thuý Kiều báo ân báo oán, hãy phân tích giá trị nhân đạo của Truyện Kiều.

Trả lời

Qua các đoạn trích giá trị nhân đạo của Truyện Kiều được thể hiện ở những khía cạnh sau đây:

– Ngợi ca vẻ đẹp ngoại hình,  phẩm chất tốt đẹp của con người:

  • Ngợi ca vẻ đẹp nhan sắc, tài năng (Kiều và Vân là những cô gái mười phân vẹn mười, mai cốt cách, tuyết tinh thần. Kiều còn là người có tài cầm, kì, thi họa).
  • Ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn: hiếu thảo, thủy chung, có tấm lòng nhân hậu vị tha (tha chết cho Hoạn Thư).

Cảm thông cho những nỗi đau khổ, bất hạnh của con người:

  • Kiều phải bán mình chuộc cha, đau đớn quên đi lời ước thề đôi lứa với Kim Trọng.
  • Cảnh sống đau khổ, nổi trôi, lênh đênh của Kiều khi ở lầu Ngưng Bích.

– Lên án, tố cáo các thế lực tàn bạo đã chà đạp lên con người

  • Thế lực đồng tiền đã đẩy con người vào cảnh khôn cùng.
  • Những kẻ tán tận lương tâm, lọc lõi, xảo quyệt (Mã Giám Sinh, Tú Bà).
  • Đề cao khát vọng về công lí, về hạnh phúc của con người (cảnh Thuý Kiều báo ân báo oán, những kẻ có tội bị trừng trị đích đáng, những người có công được đền ơn xứng đáng).

7 – Trang 134 SGK

Qua các đoạn trích đã học, hãy phân tích những thành công nghệ thuật của Truyện Kiều (nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ, nghệ thuật tả cảnh thiên nhiên, nghệ thuật miêu tả nhân vật).

Trả lời

– Nghệ thuật sử dụng ngôn từ hết sức điêu luyện, sử dụng tiếng nói của dân tộc (Là tác phẩm truyện thơ Nôm). Trong truyện Kiều, ngôn ngữ dân tộc đã đạt đến đỉnh cao rực rỡ. Ngôn ngữ trong sáng, chuẩn mực, giàu sức gợi cảm, chính xác, đẹp đẽ (ngôn ngữ tả vẻ đẹp chị em Thuý Kiều, ngôn ngữ tả cảnh ngày xuân), có sự kết hợp hài hoà giữa ngôn ngữ dân gian và ngôn ngữ bác học.

– Nghệ thuật tả cảnh thiên nhiên nổi lên hai nét chính:

  • Trực tiếp tả cảnh thiên nhiên bằng bút pháp ước lệ.
  • Tả cảnh để ngụ tình  – Nghệ thuật miêu tả nhân vật (Nguyễn Du có biệt tài miêu tả nhân vật).

– Nghệ thuật miêu tả nhân vật:

Khắc họa nhân vật bằng bút pháp ước lệ, tượng trưng (Chị em Thúy Kiều được so sánh với vẻ đẹp thiên nhiên).
Khắc họa tính cách nhân vật điển hình qua miêu tả ngoại hình, ngôn ngữ, cử chỉ. Chỉ bằng vài ba dòng thơ, tác giả đã tái hiện được chân dung nhân vật (Mã Giám Sinh – Ghế trên ngồi tót sỗ sàng, mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao)
Miêu tả đời sống nội tâm nhân vật thông qua ngôn ngữ đối thoại và nghệ thuật tả cảnh ngụ tình (Kiều ở lầu Ngưng Bích).

Bài viết tham khảo

Đề tài về người phụ nữ luôn được các nhà văn dành những trang văn ưu ái để viết về họ. Những người phụ nữ trong xã hội phong kiến dù có hoàn cảnh sống khác nhau nhưng đều chịu chung những nỗi đau khổ, những số phận đầy bi kịch. Vũ Nương trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương là một người con gái như vậy.
Vũ Nương có tư dung tốt đẹp, Trương Sinh nhờ mẹ đem một trăm lạng vàng cưới về làm vợ. Khi về làm dâu, nàng là người con thùy mị, nết na, hiếu thảo. Làm vợ Trương Sinh, nàng luôn gìn giữ khuôn phép để vợ chồng không bao giờ phải bất hoà. Nàng chăm sóc mẹ chồng như cha mẹ đẻ, chồng đi lính xa nhà vẫn giữ gìn một tiết chung thuỷ chờ chồng và chăm sóc mẹ già con thơ.
Niềm hạnh phúc đoàn tụ gia đình có lẽ là niềm mong mỏi của tất cả những người phụ nữ có chồng ra chiến trận. Ngày chồng trở về, niềm vui ngắn chẳng tày gang, nàng đã phải chịu nỗi oan khuất vì bị chồng nghi ngờ. Vắng đi người cha trong gia đình, nàng đã an ủi đứa con nhỏ bằng chiếc bóng của mình trên tường vào mỗi tối. Nhưng chỉ vì lời con thơ mà Trương Sinh đã đổ tiếng xấu xa cho nàng, không cần một lời biện minh hay giải thích. Nàng chết trong nỗi oan khuất, tủi nhục của một người vợ thủy chung, son sắt chờ chồng. Để đến khi nàng chết đi, Trương Sinh mới nhận ra được sự thật, đó là giây phút hối hận muộn màng của người ở lại.
Khác với Vũ Nương, Chị em Thuý Kiều sống cuộc sống của con nhà nề nếp, trướng rủ màn che kín đáo mặc cho tường đông ong bướm đi về mặc ai. Hai chị em đều có nhan sắc tuyệt trần. Đặc bệt, Thúy Kiều là người con gái tài sắc vẹn toàn, thông minh vốn sẵn tính trời, một tư chất thiên bẩm không mấy người có được.Nhưng số phận nàng thật nhiều bi kịch, hồng nhan đa truân, sắc đành đòi một, tài đành họa hai.
Gia đình yên ấm bỗng gặp phải tai họa, vì cứu cha và cứu em mà Kiều dã chấp nhận chia cắt mối tình với Kim Trọng, bán mình chuộc cha. Trong những lời cậy nhờ Thúy Vân ở lại chăm lo cha mẹ, ta thấy xót xa hơn cho thân phận nàng, một người con hiếu thảo và thủy chung son sắt trong tình yêu:

Mai sau dù có bao giờ,
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này.
Trông ra ngọn cỏ gió cây,
Thấy hiu hiu gió, thì hay chị về.
Hồn còn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai.

Đó là những đau khổ mở màn cho cả một cuộc đời 15 năm lưu lạc sóng gió, trải qua biết bao tủi nhục, khổ đau. Kiều bi coi như một món hàng để mua bán mặc cả của Mã Giám Sinh:

Cò kè bớt một thêm hai
Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm

Thân phận người phụ nữ bị coi rẻ, trở thành món đồ trao đổi với đồng tiền. Xót xa thay người con gái tài sắc.
Bất hạnh này mở đầu cho hàng loạt bất hạnh khác mãi cho tới khi nàng tìm tới sông Tiền Đường để tự vẫn. Dẫu biết kết chuyện Thúy Kiều được về sum họp với gia đình nhưng cả một kiếp người trôi nổi truân chuyên ấy đã vùi dập cả một trang sắc nước hương tài. Độc giả đã khóc cho bao lần chia phôi vĩnh viễn, những tháng ngày sống không bằng chết trong lầu Ngưng Bích, những nỗi tủi nhục vò xé thân mình của Thuý Kiều. Số phận bi đát ấy của người con gái đã khiến muôn đời sau phải thốt lên “Tố Như ơi, lệ chảy quanh thân Kiều.
Có lẽ bi kịch của Vũ Nương và Thúy Kiều không phải là trường hợp cá biệt mà khủng khiếp thay là số phận của bao chị em phụ nữ, là kết quả của bao nhiêu nguyên nhân mà chế độ phong kiến đã sản sinh ra làm số phận của họ thật bi đát. Từ những kiếp đời bạc mệnh ấy Nguyễn Dữ và Nguyễn Du đã góp phần khái quát lên thành lời chung, thành kiếp đau khổ chung của người phụ nữ, mà từ xa xưa số phận ấy cũng đã được thể hiện trong lời ca dao:

” Thân em như hạt mưa sa
Hạt rơi xuống giếng, hạt ra đồng ngoài ”

Đó không chỉ là tiếng kêu thương mà còn là lời tố cáo, vạch trần thực trạng xã hội đen tối, thế lực và tiền bạc lộng hành, đồng thời cũng gián tiếp lên án thế lực phong kiến đã đẩy con người vào tình cảnh đau đớn . … Số phận của người phụ nữ hoàn toàn bị phụ thuộc, chà đạp, thậm chí còn bị coi như món hàng.
Tác phẩm đã tố cáo xã hội phong kiến, chế độ nam quyền đã không cho người phụ nữ được quyền sống và quyền bảo vệ hạnh phúc cho mình. Với chế độ nam quyền : ” Trọng nam khinh nữ ” , người phụ nữ đã bị tước đoạt mọi quyền lợi chính đáng, nhân phẩm họ bị dẻ dúm. Họ bị ràng buồng bởi những lễ giáo fong kiến khắc nghiệt như đạo ” tam tòng “. Qua đó, tác giả cũng thể hiện niềm cảm thông, sự xót xa với những người phụ nữ. Nguyễn Dữ và Nguyễn Du đã thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc của mình qua trang viết về Vũ Nương và Kiều.

Soạn bài Kiểm tra về truyện trung đại- Mẫu 4

I. Hướng dẫn trả lời câu hỏi ôn tập

Câu 1. Hệ thống những kiến thức cần thiết.

a. Chuyện người con gái Nam Xương

  • Tác giả: Nguyễn Dữ sống ở thế kỷ 16, quê ở Hải Dương.
  • Nội dung chủ yếu: Khẳng định nét đẹp tâm hồn, truyền thống của người phụ nữ Việt Nam đồng thời thể hiện niềm cảm thương cho số phận nhỏ nhoi đầy bi kịch của họ.
  • Đặc sắc về nghệ thuật: Tác phẩm tự sự thành công ở cách dựng truyện, dựng nhân vật kết hợp cả tự sự trữ tình và kịch.

b. Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh

  • Tác giả: Phạm Đình Hổ (1768 – 1839), quê ở Hải Dương.
  • Nội dung chủ yếu: Đời sống sa hoa vô độ của bọn vua chúa quan lại thời phong kiến vua Lê, chúa Trịnh suy tàn.
  • Đặc sắc nghệ thuật: Thể loại văn tùy bút ghi chép sự việc một cách cụ thể, chân thực, sinh động.

c. Hoàn Lê Nhất thống chí (Hồi thứ 14).

  • Tác giả: Ngô GIa Văn Phái, quê ở Hà Tây.
  • Nội dung chủ yếu: Tái hiện chân thực hình ảnh tuyệt đẹp về người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ trong công cuộc đại phá quân Thanh và sự thất bại thảm hại của bọn cướp nước, bán nước.
  • Đặc sắc nghệ thuật: Tiểu thuyết lịch sử viết theo kiểu chương hồi bằng chữ Hán. Trong đoạn trích, lời trần thuật kết hợp với miêu tả chân thực, sinh động.

d. Truyện kiều.

  • Tác giả: Nguyễn Du (1765 – 1820), quê ở Hà Tĩnh.
  • Nội dung chủ yếu: Tác phẩm mang giá trị hiện thực và nhân đạo to lớn: là bức tranh hiện thực về một xã hội bất côn tàn bạo, là tiếng nói thương cảm trước số phận và bi kịch của con người, tố cáo những thế lực xấu xa, khẳng định đề cao tài năng, phẩm chất và những khát vọng chân chín của con người.
  • Đặc sắc nghệ thuật: Tác phẩm là sự kết tinh thành tựu nghệ thuật văn học dân tộc trên tất cả mọi phương diện ngôn ngữ cũng như thể loại, là thành tựu nghệ thuật tiêu biểu của văn học dân tộc.

a. Lục Vân Tiên.

  • Tác giả: Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888), quê ở Gia Định.
  • Nội dung chủ yếu: Tác phẩm viết về khát vọng hành đạo giúp đời của tác giả. Khát vọng ấy thể hiện ở những phẩm chất đẹp đễ của hai nhân vật chính: Lục Vân Tiên tài ba dũng cảm trọng nghĩa khinh tài, Kiều Nguyệt Nga hiền hậu nết na ân tình.
  • Đặc sắc về nghệ thuật: Là truyện thơ Nôm mang dáng dấp của một truyện để kể hơn để đọc. Ngôn ngữ mộc mạc bình dị, gắn với lời nói thông thường, mang màu sắc địa phương. Tính cách nhân vật bộc lộ chủ yếu qua hành động, cử chỉ, lời nói.

Câu 2. Bi kịch và vẻ đẹp của người phụ nữ qua tác phẩm Chuyện Người con gái Nam Xương và qua các đoạn trích Truyện Kiều.

a. Vẻ đẹp:

  • Đẹp ở nhan sắc tài năng (Chị em Thúy Kiều). Đặc biệt là vẻ đẹp của Thúy Kiều.

“Kiều càng sắc sảo mặn mà
So về tài sắc lại là phần hơn
Làn thu thủy, nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh
Một hai nghiêng nước nghiêng thành
Sắc đành đòi một, tài đành họa hai.

  • Đẹp ở tâm hồn, tình cảm;
    • Hiếu thảo, thủy chung, son sắc: Thúy Kiều thủy chung với Kim Trọng, hiếu thảo với cha mẹ, Vũ Nương thủy chung với chồng, tận tâm chăm sóc mẹ chồng.
    • Nhận hậu, vị tha.
    • Luôn khát vọng tự do, công lý, chính nghĩa: Thúy Kiều báo ân, báo oán phân minh. Vũ Nương lấy cái chết để bày tỏ sự trong sạch, chết rồi nhưng nhờ Phan Lang nói với chồng lập đàn giải oan, hiện về dương gian trong chốc lát.

b. Bi kịch:

  • Đau khổ, oan khuất: Vũ Nương bị nghi oan, không minh oan được, phải gieo mình xuống dòng Hoàng Giang.
  • Tình yêu tan vỡ: Thúy Kiều và Kim Trọng đã từng thề nguyền dưới trăng vậy mà bỗng chốc mối tìn ấy tan vỡ. Đau đớn thay!
  • Nhân phẩm bị chà đạp: Vũ Nương bị chồng mắng mỏ, đến nỗi phải tự vẫn. Thúy Kiều bị coi như một món quà hàng đem ra mua bán, bị giam hãm ở lầu Ngưng Bích trong nỗi cô đơn tuyệt vọng.

 Câu 3. Bộ mặt xấu xa của giai cấp thống trị trong xã hội phong kiến:

  • Ăn chơi xa hoa trụy lạc (Chuyện cũ trong phủ Chúa Trịnh)
  • Hèn nhát cầu cứu ngoại bang một cách nhục nhã: vua mình Lê Chiêu Thống (Hoàng Lê Nhất Thống Chí).
  • Giả dối bất nhân, vì tiền mà tang tận lương tâm (Truyện Kiều).

Câu 4. Gợi ý phân tích các hình tượng nhân vật.

a. Tham khảo tại đây:

b. Nhân vật Lục Vân Tiên:

  • Vân Tiên có lý tưởng đạo đức cao đẹp. Sẵn sàng làm việc nghĩa, làm việc vô tư không màng danh lợi.
    • Lục Vân Tiên tài ba dũng cảm: một mình với cây gậy trên tay đã đánh tan bọn cướp vừa đông vừa có vũ khí.
    • Lục Vân Tiên trọng nghĩa khinh tài: Đánh tan bọn cướp cứu Kiều Nguyệt Nga nưng không nhận “báo đức thù công” của Kiều Nguyệt Nga.

Câu 5. Những nét chính về thời đại và gia đình Nguyễn Du.

  • Nguyễn Du (1765 – 1820) tên tự là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên quê ở làng Tiên Điền huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông xuất thân trong một gia đình đại quý tộc phong kiến nổi tiếng về văn học. Cha là tiến sĩ Nguyễn Nghiễm, làm quan tới chức tể tướng. Anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khán cũng làm quan to dưới thời Lê – Trịnh.
  • Ông sống vào cuối Lê đầu Nguyễn, lúc chế độ phong kiến khủng hoảng trầm trọng, khởi nghĩa nông dân bùng nổ khắp nơi, đặc biệt là khởi nghĩa nông dân Tây Sơn.
  • Nguyễn Du phải chịu lưu lạc nhiều nơi, khi ở Tây Sơn, khi ở Thái Bình, khi ở Hà Tĩnh, ông bất đắc dĩ phải nhận lời. Ông từng được hai lần cử đi làm chánh sức ở Trung Quốc (lần thứ hai chưa kịp đi thì mất).
  • Nguyễn Du là người có kiến thức sâu rộng am hiểu văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Quốc, đi nhiều nơi, tiếp xúc với nhiều người, tạo cho ông một vốn sống phong phú và niềm thông cảm sâu sắc với những đau khổ của nhân dân. Nguyễn Du là một thiên tài văn học đồng thời là con người có trái tim giàu yêu thương.
  • Nguyễn Du để lại những tác phẩm có giá trị lớn cả chữ Hán và chữ Nôm:
    • Chữ Hán: Ba tập (243 bài).
    • Chữ Nôm: Xuất sắc nhất là truyện “Đoạn trường tân thanh” còn gọi là “Truyện Kiều”.

Tóm tắt “Truyện Kiều”: Như SGK, chú ý ba phần:

  • Phần thứ nhất: Gặp gỡ và đính ước.
  • Phần thứ hai: Gia biến và lưu lạc.
  • Phần thứ ba: Đoàn tụ.

 
Soạn bài kiểm tra truyện trung đại

Soạn bài kiểm tra truyện trung đại

Câu 6. Phân tích giá trị nhân đạo của truyện Kiều qua một số trích đoạn.

  • Khẳng định, đề cao giá trị chân chính của con người.
    • Ca ngợi vẻ đẹp, hình thức của Kiều.
    • Ca ngợi vẻ đẹp và tài năng trí tuệ của Kiều.
  • – Lên án, tố cáo các thế lực tàn bạo đã chà đạp lên con người (Mã Giám Sinh mua Kiều).
    • Thương cảm trước những khổ đau bi kịch của con người (Mã Giám Sinh mua Kiều, Kiều ở lầu Ngưng Bích).
    • Đề cao lòng nhân hậu, ước mơ công lý, chính nghĩa (Thúy Kiều báo ân báo oán).

Câu 7. Phân tích thành công nghệ thuật truyện Kiều qua các đoạn trích đã học.

  • Nghệ thuật sử dụng ngôn từ hết sức điêu luyện, nâng tiếng Việt lên một tầm cao mới. Trong truyện Kiều, ngôn ngữ dân tộc đã đạt đến đỉnh cao rực rỡ. Ngôn ngữ không chỉ mang chức năng biểu đạt, biểu cảm mà còn mang chức năng thậm mỹ.
  • Nghệ thuật tả cảnh thiên nhiên nổi lên hai nét chính:
    • Trực tiếp tả cảnh thiên nhiên.
    • Tả cảnh để ngụ tinh (Đây chứng tỏ cây bút tài hoa của một nghệ sỹ thiên tài).
  • – Nghệ thuật miêu tả nhân vật (Nguyễn Du có biệt tài miêu tả nhân vật).
    • Khắc họa nhân vật bằng bút pháp ước lệ (Chị em Thúy Kiều).
    • Khắc họa tính cách nhân vật qua miêu tả ngoại hình, ngôn ngữ, cử chỉ (Mã Giám Sinh).
    • Miêu tả đời sống nội tâm nhân vật thông qua ngôn ngữ đối thoại và nghệ thuật tả cảnh ngụ tình (Kiều ở lầu Ngưng Bích).
    • Khắc họa tính cách nhân vật qua ngôn ngữ đối thoại (Thúy Kiều báo ân báo oán).
    • Lý tưởng hóa nhân vật chính diện, hiện thực hóa nhân vật phản diện.

Kết luận

Hy vọng với các giải đáp trên thì mong là quý độc giả đã biết được cách ” Soạn bài Kiểm tra về truyện trung đại” chuẩn và chính xác nhất hiện nay. Các thông tin trên được admin cập nhật cũng như thu thập thông tin từ nhiều nguồn chuẩn xác, hy vọng các bạn sẽ thích và ủng hộ cho Chamhocbai.com.

Bài viết đã được cập nhật mới nhất vào 02/2024!