Updated at: 02-04-2023 - By: Thầy Vũ Xuân Anh

Admin Chăm Học Bài hôm nay sẽ hướng dẫn các bạn cách “Soạn bài Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh” chuẩn nhất 02/2024.

Soạn bài Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh- Mẫu 1

Soạn bài Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh (Trích Vũ trung tùy bút) siêu ngắn nhất trang 58 SGK ngữ văn 9 tập 1 giúp tiết kiệm thời gian soạn bài

Video hướng dẫn giải

Câu 1

Video hướng dẫn giải

Trả lời câu 1 (trang 63 SGK Ngữ văn 9, tập 1):

– Những chi tiết thể hiện rõ thói ăn chơi xa xỉ của chúa Trịnh và các quan lại hầu cận:

+ Chúa cho xây dựng nhiều cung điện, đình đài ở các nơi.

+ Những cuộc dạo chơi của chúa ở Tây Hồ: diễn ra thường xuyên, huy động rất đông người hầu hạ, bày đặt nhiều trò giải trí lố lăng và tốn kém.

+ Việc tìm thu vật “phụng thủ” thực chất là cướp đoạt những của quý trong thiên hạ về tô điểm cho nơi ở của chúa.

– Các sự việc đưa ra đều cụ thể, chân thực và khách quan.

– Kết thúc đoạn, tác giả nói “…kẻ thức giả biết đó là triệu bất tường”: báo trước sự suy vong tất yếu của một triều đại.

=> Tác giả kín đáo bộc lộ thái độ chủ quan của mình trước việc ăn chơi xa xỉ của chúa Trịnh khi miêu tả cảnh vườn trong phủ Chúa: “Mỗi khi đêm thanh cảnh vắng, tiếng chim kêu vượn hót ran khắp bốn bề, hoặc nửa đêm ồn ào như trận mưa sa gió táp, vỡ đổ tan tành, kẻ thức giả biết đó là triệu bất tường”. Cảm nhận của tác giả về cái “triệu bất tường” mang ý nghĩa như sự phê phán, cảnh báo về thói ăn chơi, hưởng lạc sa hoa trên mồ hôi, xương máu của nhân dân sẽ dẫn đến cảnh suy tàn, tan vỡ tang thương.

Câu 2

Video hướng dẫn giải

Trả lời câu 2 (trang 63 SGK Ngữ văn 9, tập 1):

– Bọn quan lại hầu cận trong phủ Chúa đã “mượn gió bẻ măng”, nhũng nhiễu, vơ vét của dân bằng những thủ đoạn trơ tráo, trắng trợn, vừa ăn cướp vừa la làng.

– Ý nghĩa của đoạn cuối bài: “Nhà ta ở phường Hà Khẩu…cũng vì cớ ấy”:

+ Tác giả ghi lại sự việc có thực xảy ra trong nhà mình.

-> Để làm gia tăng sức thuyết phục đồng thời bộc lộ kín đáo cảm xúc của tác giả (thái độ bất bình, phê phán).

Lời giải chi tiết:

– Bọn quan lại hầu cận trong phủ Chúa đã “nhờ gió bẻ măng”, nhũng nhiễu, vơ vét của dân bằng những thủ đoạn trơ tráo, trắng trợn, vừa ăn cướp vừa la làng: “Họ dò xem nhà nào có chậu hoa cây cảnh, chim tốt khiếu hay, thì biên ngay hai chữ “phụng thủ” vào. Đêm đến, các cậu trèo qua tường thành lẻn ra, sai tay chân đem lính đến lấy phăng đi, rồi buộc cho tội đem giấu vật cung phụng để dậm doạ lấy tiền. Hòn đá hoặc cây cối gì to lớn quá thì thậm chí phải phá nhà huỷ tường để khiêng ra. Các nhà giàu bị họ vu cho là giấu vật cung phụng, thường phải bỏ của ra kêu van chí chết, có khi phải đập bỏ núi non bộ, hoặc phá bỏ cây cảnh để tránh khỏi tai vạ.”

– Kết thúc bài tuỳ bút, tác giả ghi lại việc có thực đã từng xảy ra trong nhà mình: “Nhà ta ở phường Hà Khẩu, huyện Thọ Xương, trước nhà tiền đường có trồng một cây lê, cao vài mươi trượng, lúc nở hoa, trắng xoá thơm lừng; trước nhà trung đường cũng trồng hai cây lựu trắng, lựu đỏ, lúc ra quả trông rất đẹp, bà cung nhân ta đều sai chặt đi”. Câu chuyện thực xảy ra ở chính gia đình tác giả có tác dụng làm tăng thêm tính xác thực, sinh động cho những chứng cứ lên án chúa Trịnh và quan lại.

Câu 3

Video hướng dẫn giải

Tùy bút

Truyện

– Cốt truyện đơn giản, mờ nhạt hoặc không có cốt truyện.

– Kết cấu tự do, lỏng lẻo, có khi tản mạn, tùy theo cảm xúc của người viết.

– Giàu tính cảm xúc, chủ quan.

– Chi tiết, sự việc chân thực: ghi chép lại những điều mắt thấy, tai nghe trong cuộc sống.

– Cốt truyện phức tạp

– Kết cấu chặt chẽ, có sự sắp đặt đầy dụng ý nghệ thuật của người viết.

– Tính cảm xúc, chủ quan được thể hiện kín đáo qua nhân vật hoặc sự việc.

– Chi tiết, sự việc phần nhiều được hư cấu, sáng tạo .

Lời giải chi tiết:

– Tuỳ bút là thể văn dùng để ghi chép những con người và sự việc cụ thể, có thực, qua đó người viết chú trọng bộc lộ thái độ, cảm xúc, suy tư, nhận thức đánh giá của mình về con người và cuộc sống. Truyện là thể văn phản ánh hiện thực qua bức tranh mở rộng của đời sống qua các sự kiện, biến cố xảy ra trong cuộc đời con người.

– Truyện thường phải có cốt truyện và nhân vật; cốt truyện được trình bày có mở đầu, diễn biến, kết thúc; nhân vật được xây dựng có đặc điểm ngoại hình, chi tiết miêu tả nội tâm, diễn biến tâm lí. Tuỳ bút là sự ghi chép tuỳ hứng, có khi tản mạn, không theo một cốt truyện nào mà chủ yếu nhằm bộc lộ tình cảm, thái độ của tác giả.

Luyện tập

– Đoạn văn có thể gồm các ý chính như sau:

+ Vua chúa ăn chơi xa xỉ, không quan tâm đến đời sống người dân.

+ Quan lại tham tàn, nhũng nhiễu dân.

+ Xã hội rối ren, loạn lạc.

+ Đời sống nhân dân hết sức khổ cực.

Lời giải chi tiết:

– Đất nước ta vào thời vua Lê – chúa Trịnh cuối thế kỉ XVIII rơi vào tình cảnh vô cùng hỗn độn, lũng loạn.

– Vua chúa thì ăn chơi hưởng lạc, sống cuộc sống xa hoa, không chăm lo triều chính, bỏ mặc nhân dân, bọn quan lại ỷ vào điều đó mà hành động ngang ngược, nhũng nhiễu.

– Cuộc sống người dân vô cùng khốn cùng, cực khổ.

BÀi tham khảo:

Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh được trích trong Vũ trung tùy bút của nhà văn Phạm Đình Hổ đã cho thấy thực trạng đất nước ta vào thời vua Lê – chúa Trịnh cuối thế kỉ XVIII. Vua chúa thì chỉ biết ăn chơi hưởng lạc, không quan tâm đến việc triều chính. Tiêu biêu là chúa Trịnh Sâm, quanh năm cho xây dựng đền đài liên miên để thỏa mãn thú ăn chơi, hưởng lạc. Mỗi tháng ba lần đều ra cung Thụy Liên trên Tây Hồ dạo chơi, mỗi cuộc đều đem theo nhiều binh lính tùy tùng. Đặc biệt là, thuyền đi đến đâu cũng ghé vào các cửa hàng trong chợ, vơ vét những sản vật quý trong thiên hạ đem về phủ không thiếu một thứ gì. Còn quan lại không khuyên can mà còn ỷ vào điều đó để lũng loạn thêm. Bọn quan lại hầu cần trong phủ chúa đã nhũng nhiễu dân bằng những thủ đoạn. Họ dò xem nhà nào có chậu hoa cây cảnh… thì biên lai hai chữ “phụng thủ” (lấy để dâng lên chúa) nhưng thực chất là đêm đến sai lính đến lấy đi rồi buộc tội cho người chủ là giấu vật cung phụng để lấy tiền của họ. Từ đó dẫn đến tình trạng đất nước trở nên rối ren, hỗn loạn. Đời sống nhân dân ngày càng khổ cực, bị áp bức và bóc lột đến tận xương tủy. Thật là căm giận thay cho một chính quyền mục nát.

Bố cục

Video hướng dẫn giải

Bố cục: 2 phần

– Phần 1 ( từ đầu đến “…biết đó là triệu bất tường”): cuộc sống xa hoa trong phủ chúa.

– Phần 2 (còn lại): lũ hoạn quan mượn gió bẻ măng, dọa dẫm lấy tiền của dân.

ND chính

Video hướng dẫn giải

Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh phản ánh đời sống xa hoa của vua chúa và sự nhũng nhiễu của bọn quan lại thời Lê – Trịnh.

Soạn bài Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh- Mẫu 2

1. Tìm hiểu chung về tác giả

– Tác giả Phạm Đình Hổ (1768 – 1839) tên chữ là Tùng Niên và Bỉnh Trực, hiệu Đông Dã Tiều, tục gọi ông là Chiêu Hổ với những giai thoại họa thơ cùng nữ sĩ Hồ Xuân Hương.

– Quê ở làng Đan Loan, huyện Đường An, tỉnh Hải Dương.

– Xuất thân từ dòng dõi thế gia, cha ông từng đỗ cử nhân và làm quan dưới triều Lê.

– Từ thuở nhỏ, Phạm Đình Hổ từng ôm ấp giấc mộng văn chương, cuối đời vua Lê Chiêu Thống, ông vào học trường Quốc Tử Giám, thi đỗ sinh đồ, nhưng gặp lúc thời thế loạn lạc nên phải lánh về quê dạy học, và ở ẩn.

– Đến triều Nguyễn, vua Minh Mạng mời ông ra làm quan, nhưng được một thời gian, ông xin nghỉ và lui về ở ẩn. Tuy mấy lần ông đã từ chức, rồi lại bị triệu ra. Thành tựu văn học:

– Ông để lại nhiều công trình biên soạn, khảo cứu có giá trị thuộc đủ các lĩnh vực triết học, lịch sử, địa lý, ngôn ngữ và văn học, chủ yếu bằng tiếng Hán.

– Di sản văn chương của ông tương đối đồ sộ và rất có giá trị.

– Về văn có thể kể đến hai tập truyện “vũ trung tùy bút” và “tang thương ngẫu lục” (viết chung với Nguyễn Án).

– Về thơ có thể kể đến hai tập truyện “Đông Dã học ngôn thi tập” và “Tùng cúc liên mai tứ hữu”.

2. Giới thiệu khái quát về tác phẩm

* Hoàn cảnh sáng tác

– “Vũ trung tùy bút” (Tùy bút được viết trong những ngày mưa) là một tác phẩm văn xuôi được viết bằng chữ Hán trong khoảng đầu thế kỷ 19

– đầu triều đại Nguyễn gồm 88 mẩu chuyện nhỏ.

– Tác phẩm tập trung về những vấn đề xã hội, con người mà tác giả chứng kiến và suy ngẫm. Giá trị của tác phẩm không chỉ ở văn chương nghệ thuật mà còn mở rộng trên các lĩnh vực lịch sử, địa lý, văn hóa, xã hội học…

* Thể loại

– Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh được viết theo thể tùy bút.

– Tùy bút là một loại bút ký, thuộc thể loại tự sự nhưng cốt truyện đơn giản (thậm chí không có chuyện), dùng để ghi chép tùy hứng, tản mạn, gặp gì ghi nấy, nhớ đâu ghi đó, không cần hệ thống, kết cấu gì cả (tùy bút trung đại có thể có sự khác biệt so với tùy bút hiện đại: Cô tô, Cây tre Việt Nam)

* Tóm tắt nội dung tác phẩm

Năm Giáp Ngọ, Ất Mùi (1774 – 1775) Trịnh Sâm yêu thích ăn chơi, thường ngự ở các cung trên Tây Hồ, núi Tử Trầm, núi Dũng Thúy. Trịnh Sâm sai binh lính, nhân dân xây dựng nơi ăn chơi với nhiều cung diện, đình đài khắp nơi. Ông ta đi đến đâu có binh lính đàn hầu khắp nơi, thuyền đi đến đâu các quan hô tụng đại thần tung hô, khung cảnh xung quanh rộn ràng. Thật là một cảnh tượng lố lăng, phản cảm. Để thỏa mãn các cuộc ăn chơi, hưởng lạc, chúa cho săn tìm nhiều cây cảnh, chậu hoa quý trong dân gian. Bọn quan trong triều nhờ sự sủng ái, yêu mến của Chúa mà trở nên tác oai tác quái, chúng vừa ăn cướp vừa la làng. Ban ngày thì dò xét chậu hoa cây cảnh chim tốt khứu hay, ban đêm cho người đi cướp, vu oan cho nhân dân giấu vật “cung phụng”. Người dân chỉ biết bỏ tiền ra bịt miệng chúng hoặc phải tự tay phá hủy nhằm tránh tai họa ập đến.

* Bố cục đoạn trích:

Phần một: Từ đầu đến “triệu bất tường”: Cuộc sống xa hoa hưởng lạc của chúa Trịnh.

Phần còn lại: Lũ hoạn quan thừa gió bẻ măng.

3. Đọc – Hiểu tác phẩm

a. Cuộc sống xa xỉ, vô độ của Thịnh Vương Trịnh Sâm và bọn quan lại hầu cận trong phủ chúa:

– Chúa cho xây dựng nhiều cung điện, đình đài ở khắp các nơi để thỏa thú vui “chơi đèn đuốc”, ngắm cảnh đẹp, ý thích đó không biết bao nhiêu cho vừa, vì vậy “việc xây dựng đình đài cứ liên miên”, hao tiền tốn của rất nhiều.

– Những cuộc dạo chơi của chúa ở Tây Hồ được miêu tả tỉ mỉ:

+ Diễn ra thường xuyên “tháng ba, bốn lần”

+ Huy động rất đông người phục dịch, bao gồm binh lính dàn hầu vòng quanh bốn mặt hồ mà hồ Tây thì rất rộng.

+ Bày vẽ nhiều trò chơi lố lăng, tốn kém (các nội thần ăn mặc giả đàn bà bày bán hàng quanh hồ, thuyền ngự dạo trên hồ, chốc chốc lại ghé vào bờ mua bán, dàn nhạc bố trí khắp nơi quanh hồ để tấu nhạc làm vui….)

– Cảnh trong vườn phủ chúa được tô điểm bởi những vật “phục thủ” nhưng thực chất là của cải cướp đoạt những của quý trong thiên hạ.

+ Chim quý, thú lạ, cây cổ thụ, những hòn đá hình dáng kỳ lạ.

+ Chậu cây cảnh, có những cây cảnh “rễ dài đến vài trượng”.

+ Núi non bộ “điểm xuyết bày vẽ”. => Phạm Đình Hổ đã được mắt thấy tai nghe những chuyện cũ đã xảy ra trong quá khứ nên cách kể, cách tả của ông rất sống động, từng sự việc, từng cảnh tượng lại hiện lên qua những câu văn thật sinh động. Tất cả đều toát lên thói ăn chơi, sa đọa, vô độ của chúa Trịnh và các quan lại hầu cận trong phủ chúa.

Nghệ thuật:

– Các sự việc, chi tiết đưa ra đều cụ thể, chân thực, khách quan.

– Nhà văn sử dụng biện pháp liệt kê và ngòi bút miêu tả tỉ mỉ một số sự kiện tiêu biểu để khắc họa ấn tượng: Từ chuyện Thịnh Vương thích đi chơi ngắm cảnh đẹp đến chuyện xây dựng đền đài liên tục; từ trò tạo cảnh mua bán các thứ quanh bờ hồ đến thú nghe hòa nhạc mỗi lúc chúa dạo chơi trên bờ Tây Hồ; rồi cảnh vườn trong phủ chúa với bao nhiêu “trân cầm dị thú, cổ mộc quái thạch”, điểm xuyết bày vẽ ra hình núi non bộ trông như bến bể đầu non mà chúa đã “sức thu” từ chốn dân gian… tất cả góp phần tạo nên hình ảnh chân thực nhất.

=> Đoạn văn miêu tả cảnh đêm vắng thanh tịnh với tiếng chim kêu và tiếng vượn hót lan tỏa khắp nơi. Tuy nhiên, điều này không phải là một cảnh thái bình thịnh trị thực sự mà là một dấu hiệu của sự suy đồi và khủng hoảng trong triều đại Lê – Trịnh.

Tác giả sử dụng câu “triệu bất tường” để báo hiệu rằng điều gì đó không bình thường đang diễn ra. Câu văn này mang ý nghĩa cảnh báo về sự suy vong tất yếu của triều đại Lê – Trịnh, được thể hiện qua cảnh u ám, đầy âm khí, chứa đựng nỗi oán hờn của nhân dân đối với ngai vàng mục nát của vua Lê – chúa Trịnh. Tiếng chim kêu vượn hót ran bốn bề chính là lời ca thán của nhân dân đối với chính quyền thực dân, báo hiệu rằng cuộc cách mạng sẽ sớm đến. Sau khi chúa Trịnh qua đời, đã xảy ra loạn kiêu binh, các sự kiện lịch sử liên quan đến việc chiếm đóng và thống nhất đất nước đã diễn ra. Đây được xem là “triệu bất tường” đối với chúa Trịnh, đánh dấu sự tàn nhẫn và bạo lực của một triều đại đang trên đà suy đồi.

b. Những thủ đoạn và hành động của bọn hoạn quan thái giám dưới thời chúa Trịnh

– Chúng đã ra ngoài dọa dẫm, dò xét xem nhà nào có chậu hoa, cây cảnh, chim quý thì biên hai chữ “phụng thủ”, tiến cống.

– Đêm đến, lẻn ra, sai lính đến đem về, có khi phá nhà đập tường để đưa cây hoặc đá non bộ đi.

– Chúng ăn cướp trắng trợn của dân. => Đó là những thủ đoạn vừa ăn cắp, vừa la làng của bọn tay sai quái đản dưới chướng Chúa, như một quy trình quen thuộc của bọn hoạn quan thừa gió, bẻ măng, đục nước béo cò. Như vậy, để được sống xa hoa, hưởng lạc các bậc đế vương, từ chúa đến quan trở thành bọn cướp ngày trắng trợn, xảo quyệt ra sức hoành hành trấn lột khắp chốn cùng quê “cướp đêm là giặc cướp ngày là quan”.

– Sở dĩ chúng làm được như vậy là vì thời chúa Trịnh Sâm, bọn hoạn quan hầu cận trong phủ chúa rất được sủng ái và lộng quyền, bởi chúng có thể giúp chúa đắc lực trong việc bày các trò ăn chơi hưởng lạc. Nhờ vào thế, bọn quan lại cũng ỷ thế nhà chúa mà hoành hành, tác oai, tác quái trong nhân dân để thỏa mãn thú chơi xa xỉ, đúng là dột từ nóc dột xuống “thượng bất chính, hạ tắc loạn” (trên không nghiêm, dưới sinh loạn).

– Những hành vi của chúng gây cho dân lành lương thiện nhiều nỗi cơ cực và cuộc sống luôn trong tình trạng bất ổn: bị vu oan, bị hãm hại, bị phá cửa nát nhà tan “Hòn đá hoặc cây cối gì to lớn quá thì thậm chí phải phá hủy tường nhà để khiêng ra”, người giàu có bỗng thành miếng mồi ngon cho bầy diều quạ hung dữ mượn danh Chúa đục khoét, hành hạ….

– Kết thúc đoạn văn miêu tả thủ đoạn của bọn hoạn quan này, tác giả kể lại một sự việc có thật tại gia đình mình: Bà mẹ của tác giả đã phải sai chặt đi một cây lê và hai cây lựu quý, rất đẹp trong vườn nhà mình để tránh tai họa, chính chi tiết này vừa tăng tính chân thực, tạo niềm tin cho người đọc mai hậu, vừa phê phán bộ mặt tham lam, ghê tởm của bọn quan lại thời Lê – Trịnh, vạch trần sự thối tha trong phủ chúa

=> Cách miêu tả của tác giả cũng vẫn thể hiện đậm nét tài năng nghệ thuật của ông, vô cùng tỉ mỉ, cụ thể, có vẻ như khách quan, lạnh lùng. Nhưng đến đoạn tả cây lê, cây lựu nở hoa trắng, hoa đỏ thì nhà văn bộc lộ xúc cảm: xót xa, tiếc, hận, giận mà chẳng làm gì được vì mình là kẻ thuộc hạ dưới quyền, là thần dân dưới quyền cai trị của một vương triều thối nát.

4. Trả lời câu hỏi SGK

Câu 1. Thói ăn chơi xa xỉ của chúa Trịnh và các quan hầu cận được miêu tả thông qua những chi tiết nào? Hãy nhận xét về lời văn ghi chép sự việc của các tác giả. Tại sao kết thúc đoạn văn miêu tả này, tác giả lại nói: “kẻ thức giả biết đó là triệu bất tường”?

– Thói ăn chơi xa xỉ của chúa Trịnh và các quan hầu cận được miêu tả thông qua:

+ Chúa Trịnh Sâm cho xây dựng đền đài liên miên để thỏa mãn thú ăn chơi, hưởng lạc.

+ Mỗi tháng ba lần đều ra cung Thụy Liên trên Tây Hồ dạo chơi, mỗi cuộc đều đem theo nhiều binh lính tùy tùng.

+ Đặc biệt là, thuyền đi đến đâu cũng ghé vào các cửa hàng trong chợ, vơ vét những sản vật quý trong thiên hạ đem về phủ không thiếu một thứ gì.

– Lời văn tác giả mang giọng khách quan, không cần thể hiện quá nhiều, những sự việc kể lại đã đủ bóc trần bản chất xã hội, đủ để tỏ nhìn nhận thái độ của tác giả.

– Lời kết thúc “… kẻ thức giả biết đó là triệu bất thường” là lời dự báo về một thảm họa ắt sẽ xảy ra khi xã hội hỗn loạn như thế này.

Câu 2. Bọn quan lại hầu cần trong phủ chúa đã nhũng nhiễu dân bằng những thủ đoạn nào? Tìm hiểu ý nghĩa đoạn văn cuối bài: “Nhà ta ở phường Hà Khẩu cũng vì cớ ấy”.

– Bọn quan lại hầu cần trong phủ chúa đã nhũng nhiễu dân bằng những thủ đoạn: Họ dò xem nhà nào có chậu hoa cây cảnh… thì biên lai hai chữ “phụng thủ” (lấy để dâng lên chúa) nhưng thực chất là đêm đến sai lính đến lấy đi rồi buộc tội cho người chủ là giấu vật cung phụng để lấy tiền của họ.

– Ý nghĩa của đoạn cuối bài: Lời minh chứng khẳng định cho những chi tiết ở trên thêm thuyết phục hơn vì đó là câu chuyện xảy ra trong chính gia đình tác giả.

Câu 3. Theo em, có thể văn tùy bút trong bài có gì khác so với thể truyện mà các em đã học ở bài trước?

Sự khác biệt giữa truyện và tùy bút:

– Truyện: có cốt truyện cụ thể, rõ ràng và nhân vật được khắc họa với những nét ngoại hình, tính cách.

– Tùy bút: ghi chép các sự việc một cách tùy hứng, không theo một trình tự nào và nhân vật thì ít được khắc họa ngoại hình, tính cách.

Soạn bài Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh- Mẫu 3

Soạn văn Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh chi tiết

I. Tác giả

– Phạm Đình Hổ (1768 – 1839) tên chữ là Tùng Niên hoặc Bỉnh Trực hiệu Đông Dã Tiều, tục gọi là Chiêu Hổ, người làng Đan Loan, huyện Đường An, tỉnh Hải Dương (nay là xã Nhân Quyền, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương).

– Ông sống vào thời buổi đất nước loạn lạc nên muốn ẩn cư. Đến thời Minh Mạng nhà Nguyễn, vua vời ông ra làm quan. Tuy nhiều lần ông đã từ chức nhưng lại bị triệu ra.

– Phạm Đình Hổ để lại nhiều công trình biên soạn, khảo cứu có giá trị thuộc đủ các lĩnh vực: văn học, triết học, lịch sử… đều bằng chữ Hán.

II. Tác phẩm

1. Hoàn cảnh sáng tác

– Vũ Trung tùy bút (Tùy bút viết trong những ngày mưa) là một tác phẩm đặc sắc của Phạm Đình Hổ, được viết vào khoảng đầu đời Nguyễn (đầu thế kỉ XIX).

– Tác phẩm trên gồm 88 mẩu chuyện nhỏ viết theo thể tùy bút, hiểu theo nghĩa là ghi chép tản mạn, tùy hứng không theo hệ thống kết cấu gì.

2. Bố cục

Gồm 2 phần:

  • Phần 1: Từ đầu đến “kẻ thức giả biết đó là triệu bất tường”. Cuộc sống xa hoa trong phủ chúa Trịnh.
  • Phần 2. Còn lại. Bọn hoạn quan mượn danh chúa để vơ vét của dân.

3. Tóm tắt

Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh kể về cháu Trịnh Sâm. Sau khi dẹp hết bè phái trong ngoài muốn tranh giành quyền lực thì ra sức ăn chơi trác tán. Trịnh Sâm thường có thú vui là thưởng ngoạn Tây Hồ. Binh lính, quan lại theo hầu đông vui không khác gì mở hội. Chúa đi đến đâu cũng đem hết những thứ quý giá đem về phủ, không thiếu một thứ gì. Bọn quan lại trong cùng thường mượn gió bẻ măng, ra ngoài dọa dẫm dân thường để vơ vét những đồ quý giá đem vào dân chúa.

III. Đọc – hiểu văn bản

1. Cuộc sống xa hoa trong phủ chúa Trịnh

Cuộc sống xa hoa, hưởng lạc của chúa Trịnh được tác giả ghi chép một cách chân thực, tỉ mỉ:

– Thời gian: Khoảng năm Giáp Ngọ, Ất Mùi (1774 – 17750) trong nước vô sư.

– Chúa Trịnh Sâm cho xây dựng đền đài liên miên để thỏa mãn thú ăn chơi, hưởng lạc.

– Mỗi tháng ba lần đều ra cung Thụy Liên trên Tây Hồ dạo chơi, mỗi cuộc đều đem theo nhiều binh lính tùy tùng.

– Đặc biệt là, thuyền đi đến đâu cũng ghé vào các cửa hàng trong chợ, vơ vét những sản vật quý trong thiên hạ đem về phủ không thiếu một thứ gì.

– Nhà văn tập trung miêu tả khung cảnh tùy tung đem một cây đa về phủ chúa để cho thấy sự kỳ công, sa hoa và tốn kém của chúa.

=> Khắc họa chân thực thói ăn chơi hưởng lạc của người đứng đầu đất nước, từ đó cho thấy một điềm báo trước về sự sụp đổ của một vương triều.

2. Bọn hoạn quan mượn danh chúa để vơ vét của dân

Thói ăn chơi hưởng lạc của người đứng đầu đất nước đã tạo cơ hội cho bọn hoạn quan mượn gió bẻ mang, ra ngoài dọa dẫm dân lành.

– Họ dò xem nhà nào có chậu hoa cây cảnh… thì biên lai hai chữ “phụng thủ” (lấy để dâng lên chúa) nhưng thực chất là đêm đến sai lính đến lấy đi rồi buộc tội cho người chủ là giấu vật cung phụng để lấy tiền của họ.

=> Vừa ăn cướp vừa la làng.

– Câu chuyện của chính gia đình ông: trước tiền đường có trồng một cây lê, cao vài mươi trượng, lúc hoa nở trắng xóa thơm lừng và cây lựu trắng, lựu đó lúc ra quả trông rất đẹp nhưng đều phải chặt đi cũng vì tránh tai họa như vậy.

=> Cách kể đầy thuyết phục khi chính tác giả cũng là người phải trải qua câu chuyện ấy.

Tổng kết: 

– Nội dung: Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh đã phản ánh đời sống xa hoa của vua chúa và sự nhũng nhiễu của bọn quan lại thời Lê – Trịnh.

– Nghệ thuật: Lối văn ghi chép sự việc cụ thể, chân thực, sinh động.

Trả lời câu hỏi SGk

Câu 1. Thói ăn chơi xa xỉ của chúa Trịnh và các quan hầu cận được miêu tả thông qua những chi tiết nào? Hãy nhận xét về lời văn ghi chép sự việc của các tác giả. Tại sao kết thúc đoạn văn miêu tả này, tác giả lại nói: “kẻ thức giả biết đó là triệu bất tường”?

– Những chi tiết cho thấy thói ăn chơi xa xỉ của chúa Trịnh và các quan hầu cận:

  • Chúa cho xây dựng cung đình, đền đài ở khắp nơi.
  • Thường xuyên tổ chức các cuộc dạo chơi ở Tây Hồ: mỗi tháng đến ba bốn lần. Huy động nhiều kẻ hầu người hạ, bày trò giải trí lố lăng.
  • Việc tìm vật “phụng thủ” diễn ra thực chất là để cướp đoạt những đồ quý trong thiên hạ và bóc lột tiền của.

– Lý do tác giả nói “kẻ thức giả biết đó là triệu bất tường”: giống như một lời dự báo về một thảm họa sắp xảy ra.

Câu 2. Bọn quan lại hầu cần trong phủ chúa đã nhũng nhiễu dân bằng những thủ đoạn nào? Tìm hiểu ý nghĩa đoạn văn cuối bài: “Nhà ta ở phường Hà Khẩu cũng vì cớ ấy”.

– Bọn quan lại trong phủ chúa đã nhũng nhiều dân bằng những thủ đoạn: Họ dò xem nhà nào có chậu hoa cây cảnh… thì biên lai hai chữ “phụng thủ” (lấy để dâng lên chúa) nhưng thực chất là đêm đến sai lính đến lấy đi rồi buộc tội cho người chủ là giấu vật cung phụng để lấy tiền của họ.

– Ý nghĩa của đoạn cuối bài: Lời minh chứng khẳng định cho những chi tiết ở trên thêm thuyết phục hơn vì đó là câu chuyện xảy ra trong chính gia đình tác giả.

Câu 3. Theo em, có thể văn tùy bút trong bài có gì khác so với thể truyện mà các em đã học ở bài trước?

– Truyện: có cốt truyện cụ thể, rõ ràng và nhân vật được khắc họa với những nét ngoại hình, tính cách.

– Tùy bút: ghi chép các sự việc một cách tùy hứng, không theo một trình tự nào và nhân vật thì ít được khắc họa ngoại hình, tính cách.

II. Luyện tập

Căn cứ vào Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh và cả bài đọc thêm dưới đây, hãy viết một đoạn văn ngắn trình bày những điều em nhận thức được về tình trạng đất nước ta vào thời vua Lê – chúa Trịnh cuối thế kỉ XVIII.

Gợi ý:

  • Hiện thực đất nước ta trong thời kỳ vua Lê – chúa Trịnh: mục nát, hỗn loạn.
    Vua chúa ăn chơi hưởng lạc, không quan tâm đến việc triều chính.
  • Quan lại không khuyên can mà còn ỷ vào điều đó để lũng loạn thêm
  • Cuộc sống của nhân dân nghèo khổ, bị áp bức và bóc lột.

Soạn bài Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh- Mẫu 4

A. Nội dung tác phẩm Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh

Đoạn trích Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh ghi lại cảnh sống xa hoa vô độ của chúa Trịnh và bọn quan lại hầu cận trong phủ chúa.

Khoảng năm Giáp Ngọ, Ất Mùi (1774 -1775) trong nước có chúa Trịnh Sâm thích chơi đèn đuốc thường ngự ở các li cung trên Tây Hồ núi Tử Trầm, núi Dũng Thúy. Cuộc sống của chúa Trịnh rất xa hoa và tốn kém: xây dựng nhiều cung điện, đền đài liên tục lãng phí, thích đi chơi, ngắm cảnh đẹp, mỗi tháng vài ba lần Vương ra cung Thuỵ Liên. Việc tìm thú vui của chúa Trịnh thực chất là để cướp đoạt những của quý trong thiên hạ.

Bọn hoạn quan thì được chúa sủng ái, chúng ngang nhiên ỷ thế hoành hành, vừa ăn cướp vừa la làng. Chúng dò xem nhà nào có cây cảnh, chim tốt, khướu hay hoặc đồ vật đẹp nào đều quy cho vào tội “phụng thủ”, người ta phải van xin chí chết mới được tha, có khi còn phải phá bỏ để tránh khỏi tai vạ. Nhà tác giả cũng có trồng một cây lê và hai cây lựu trắng, đỏ nở hoa rất đẹp nhưng cũng phải chặt đi vì cớ ấy.

B. Đôi nét về tác phẩm Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh

1. Tác giả

Phạm Đình Hổ (1768 – 1839), tên chữ là Tùng Niên hoặc Bỉnh Trực hiệu là Đông Dã Tiều tục gọi là Chiêu Hổ.

– Ông là người làng Đan Loan – huyện Đường An – Hải Dương (nay là xã nhân Quyền – huyện Bình Giang – Hải Dương).

– Ông sống vào thời buổi đất nước loạn lạc nên muốn ẩn cư. Đến thời Minh Mạng nhà Nguyễn, nhà vua mời ông ra làm quan, dù ông đã mấy lần từ chức nhưng vẫn bị mời ra.

– Để lại nhiều văn thơ viết bằng chữ Hán có giá trị lịch sử: “Vũ trung tùy bút”, “Tang thương ngũ lục”

2. Tác phẩm

a. Hoàn cảnh sáng tác

Đoạn trích nằm trong tác phẩm “Vũ trung tùy bút”, viết khoảng đầu đời Nguyễn (đầu thế kỉ XIX). Đây là tác phẩm văn xuôi ghi lại một cách sinh động, hấp dẫn hiện thực đen tối của lịch sử nước ta, là tài liệu quý giá về sử học, địa lí, xã hội học.

b. Bố cục

Gồm 2 phần:

+ Phần 1 (Từ đầu đến “triệu bất tường”) → Cuộc sống xa hoa, hưởng lạc của Trịnh Sâm

+ Phần 2 (còn lại): Sự nhũng nhiễu của bọn quan lại dưới quyền

c. Giá trị nội dung

“Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh” phản ánh đời sống xa hoa của vua chúa và sự nhũng nhiễu của bọn quan lại thời Lê – Trịnh, đưa đến một góc nhìn chân thực, phơi bày thực trạng đen tối của xã hội Việt Nam dưới thời vua Lê – chúa Trịnh.

d. Giá trị nghệ thuật

– Thể loại tùy bút, sự ghi chép rất chân thực, sinh động mà lại giàu chất trữ tình.

– Các chi tiết miêu tả chọn lọc kĩ càng, đắt giá, giàu sức thuyết phục

– Giọng điệu gần như khách quan nhưng cũng rất khéo léo, thể hiện thái độ lên án bọn vua quan qua thủ pháp liệt kê.

C. Sơ đồ tư duy Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh

Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh - tác giả, nội dung, bố cục, tóm tắt, dàn ý

D. Đọc hiểu văn bản Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh

1. Cuộc sống xa hoa, hưởng lạc của Trịnh Sâm

Sự xa hoa trong cuộc sống của chúa Trịnh Sâm đã được ghi chép lại chân thực, tỉ mỉ:

+ Chúa cho xây dựng nhiều cung điện, đền đài chỉ để thỏa mong muốn “thích chơi đèn đuốc”

→ Xây dựng đền đài vì mục đích cá nhân → nhân dân hao tiền tốn của.

+ Chúa thường xuyên tổ chức các cuộc dạo chơi Tây Hồ ba bốn lần một tháng → huy động rất nhiều người hầu hạ cùng những trò giải trí lố lăng, tốn kém

+ Tìm thu vật “phụng thủ” → cướp đoạt những vật quý giá trong thiên hạ.

+ Đưa một cây đa cổ thụ về từ bên kia sông, cần tới cơ binh hàng trăm người → kì công, xa hoa tốn kém.

=> Lối ghi chép tỉ mỉ, chân thực, khách quan, không đưa thêm bất cứ một lời bình luận nào → sự xa xỉ, ăn chơi, không màng đến quốc gia đại sự của một người nắm binh quyền → sự sụp đổ, suy vong là điều không tránh khỏi.

2. Sự nhũng nhiễu của bọn quan lại dưới quyền

Sự xa hoa hưởng lạc của người đứng đầu → thói nhũng nhiễu của quan lại dưới trướng:

+ Bọn hoạn quan được sủng ái vì giúp vua trong những trò chơi xa hoa nên ỷ thế hoành hành, tác oai tác quái

+ Chúng tìm thu vật “phụng thủ” → vừa ăn cướp, vừa la làng.

Người dân: bị cướp đến hai lần → phải tự hủy bỏ những sản vật quý giá của mình.

Quan lại: vơ vét làm của riêng → được tiếng mẫn cán

+ Phạm Đình Hổ kể câu chuyện từ chính gia đình mình khi bà mẹ ông phải sai chặt đi một cây lê và hai cây lựu quý chỉ vì muốn tránh tai họa → tăng sức thuyết phục, chân thực.

⇒ Tác giả kín đáo bộc lộ thái độ bất bình, phê phán.

E. Bài văn phân tích Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh

Trong các áng văn xuôi thời kì trung đại ở nước ta, bên cạnh Truyền kì mạn lục – một “Thiên cổ kì bút” – người đời thường nhắc tới Vũ trung tuỳ bút (Theo ngọn bút viết trong khi mưa) của Phạm Đình Hổ. Tác phẩm ra đời vào đầu thế kỉ XIX. Khác với Truyền kì mạn lục, tập sách “viết trong mưa” ấy thuộc thể loại tuỳ bút. Dùng văn tuỳ bút, danh nho Phạm Đình Hổ đã tuỳ theo hứng thú và suy nghĩ của riêng mình, ghi chép lại những sự việc, những câu chuyện cụ thể chân thực, những điều tai nghe, mắt thấy trong cuộc sống. Khi đọc Truyền kì mạn lục, chúng ta bắt gặp đây đó những yếu tố lãng mạn, huyền ảo, còn trong Vũ trung tuỳ bút thì đậm đặc chất hiện thực. Một trong những bức tranh hiện thực ấy là những chuyện trong phủ chúa Trịnh Sâm. Viết lại những câu chuyện cũ ấy, tác giả dự báo “đó là triệu bất tường”, là những dấu hiệu không lành, những điềm gở.

Trước hết là những câu chuyện về thói ăn chơi xa xỉ, vô độ của chúa Trịnh Sâm và các quan lại hầu cận trong phủ chúa. Tác giả Phạm Đình Hổ kể ba sự việc tiêu biểu. Việc thứ nhất: Chúa cho xây dựng nhiều cung điện, đình đài ở các nơi để thỏa mãn ý thích “đi chơi ngắm cảnh đẹp”, ý thích đó cứ triền miên, nối tiếp tưởng đến không cùng. Vì vậy, nhà văn viết “Việc xây dựng đình đài cứ liên miên”. Nghĩa là việc huy động sức dân, thu tiền bạc, chiếm đất đai, bắt nhân công liên tục diễn ra hàng tháng, hàng năm, nơi này, nơi khác. Việc thứ hai: Những cuộc rong chơi của chúa Thịnh Vương (Trịnh Sâm). Chúa thường thích đi chơi, thường ngự – tới ăn ngủ, ngắm cảnh đẹp, hưởng của ngon, vật lạ, thỏa mãn thú vui cả thể xác lẫn tinh thần – ở các li cung (cung điện, lâu đài xa kinh thành) trên Hồ Tây, núi Tử Trầm, núi Dũng Thuý. Trong những chuyến du lịch ấy của chúa đặc biệt nhất là cuộc dạo chơi trên Hồ Tây. Vòng quanh bốn mặt hồ, binh lính phải “dàn hầu”, vừa để bảo vệ vừa sẵn sàng làm theo lời chúa sai bảo. Cũng vòng quanh bốn mặt hồ, các quan trong triều phải “đầu bịt khăn, mặc áo đàn bà” cải trang là những thị dân buôn bán, bày hàng hoá như một khu chợ sầm uất, đông vui, vui cho thiên hạ thì ít mà vui cho chúa thì nhiều. Thuyền ngự đến đâu thì chúa và các hỗ tụng đại thần tuỳ ý ghé vào bờ mua bán. Chúa và cận thần tới, thì nhạc công phải tấu lên những khúc nhạc dặt dìu gần xa vẳng từ dưới bóng cây, bến đá nào đó. Đúng là bức tranh cuộc sống phồn hoa mà giả dối. Tác giả chỉ ghi chép khách quan, không một lời nhận xét, mà sự việc nó cứ tự phơi bày những nét rởm hợm, nực cười, đáng chê trách. Việc thứ ba – đáng chê trách hơn – là câu chuyện chúa “sức thu lấy” – ra lệnh bằng văn bản – cướp đoạt một cách trắng trợn tất cả “những loài trân cầm dị thú, cổ mộc quái thạch, chậu hoa cây cảnh” trong nhân dân. Chọn một cảnh điển hình của những cuộc cướp đoạt ấy – cảnh lính tráng chở một cây đa cổ thụ về phủ chúa – tác giả miêu tả bằng những từ ngữ sống động, một giọng văn thật nặng nề. Cây đa to, cành lá rườm rà, được rước qua sông”… như một cây cổ thụ mọc trên đầu non hốc đá, rễ dài đến vài trượng, phải một cơ binh mới khiêng nổi, lại bốn người đi kèm, đều cầm gươm đánh thanh la đốc thúc quân lính khiêng đi cho đều tay”. Đó là một đám rước công phu, tốn kém. Cây đa ấy vốn ở đầu non hốc đá tự do – phóng khoáng giữa rừng núi nay bị rước về vườn nhà chúa bề ngoài có vẻ oai phong, song nhìn kĩ thấy tội nghiệp quá. Bởi vì từ nay, đa đâu còn là biểu tượng trường tồn, bất diệt, biểu tượng cho sức sống của con người, của quê hương, đất nước. Đa đã bị ép buộc để “điểm xuyết, bày vẽ” thành thứ đồ chơi riêng của nhà chúa. Cây đa cũng giống như thân phận của muôn loài trân cầm dị thú, cổ mộc, quái thạch, chậu hoa cây cảnh trong dân gian đã bị cầm tù, bị tha hoá. Bao nhiêu cái đẹp của tự nhiên, những thú vui tao nhã, chính đáng của nhân dân đã bị nhà chúa chiếm đoạt. Số phận của cây trời, đá núi, hoa lá, … vô tri thì như thế, hỏi số phận con người ra sao? Người viết tùy bút, danh nho Phạm Đình Hổ đã đưa ra những sự việc cụ thể chân thực và khách quan, không bình luận mà các hình ảnh, chi tiết cứ hiện lên đầy ấn tượng. Ấn tượng nhất là cảnh đêm nơi vườn nhà chúa: “Mỗi khi đêm thanh cảnh vắng, tiếng chim kêu vượn hót ran khắp bốn bề, hoặc nửa đêm ồn ào như trận mưa sa gió táp, vỡ tổ tan đàn, kẻ thức giả biết đó là triệu bất tường”…

Tiếng chim kêu, vượn hót khắp bốn bề giữa đêm khuya thanh vắng, hay là tiếng muôn loài than thở? Trận mưa sa gió táp ồn ào hay sự giận dữ của trời đất? Những âm thanh ấy gợi cảm giác ghê rợn như một điều gì đó đang tan tác đổ vỡ, suy sụp đau đớn, chứ không phải là một cảnh đẹp bình yên, phồn thực, no ấm. Nghe những âm thanh ấy “kẻ thức giả” – nhà nho Phạm Đình Hổ biết “đó là triệu bất tường”. Đến dòng văn cuối của những câu chuyện nhà chúa, cảm nghĩ của tác giả bộc lộ trực tiếp, nhưng lời văn vẫn nhẹ nhàng, tế nhị, gián tiếp bằng một danh từ chung là “kẻ thức giả”. Kẻ thức giả là những người có học vấn, có hiểu biết sâu rộng. Viết câu văn ấy, Phạm Đình Hổ là một người có tầm phán đoán, dự cảm chính xác. Ông đã thấy rõ những cuộc ăn chơi xa hoa, vô độ của chúa Trịnh Sâm là “triệu bất tường”, những dấu hiệu không lành, những điềm gở. Nó báo trước sự suy vong tất yếu của một triều đại chỉ chăm lo việc ăn chơi hưởng lạc trên mồ hôi, nước mắt và cả xương máu của dân lành. Quả thực, điều đó đã xảy ra không lâu sau khi Trịnh Sâm mất.

Sách xưa có câu “Thượng bất chính, hạ tắc loạn” – cấp trên không chân chính, nghiêm túc thì cấp dưới tất sẽ làm loạn. Chúa ở ngôi cao mải mê ăn chơi, sa đọa, tất yếu các quan cấp dưới ỷ thế làm càn. Do đó, từ những câu chuyện của chúa, Phạm Đình Hổ chuyển ý, kể đến chuyện các quan “bọn hoạn quan cung giám lại thường nhờ gió bẻ măng, ra ngoài dọa dẫm…”. Ở đoạn văn thứ hai này, tác giả tập trung kể một sự việc. Đó là việc bọn hoạn quan bày trò cướp đoạt, vu cáo, phá hoại tài sản của nhân dân một cách trắng trợn, tàn ác. Chúng thực hiện công việc rất “bài bản”. Động tác một: “Dò xem” nhà nào có vật quý, thì biên vào hai chữ “phụng thủ” nghĩa là lấy để dâng chúa. Động tác thứ hai: “Trèo qua tường thành lẻn ra”… “lấy phăng đi”… Động tác thứ ba: Nếu nhà nào phản ứng, thì “buộc cho tội giấu vật báu” của vua chúa… Ở đoạn văn tùy bút này nhà văn sử dụng liên tục các động từ miêu tả thái độ và hành động bọn hoạn quan trong ba câu văn đặc tả với những từ ngữ nhấn mạnh: “Dò xem”, “trèo”, “lẻn”, “lấy phăng”, “buộc tội”, “dọa dẫm”, … Đúng là những thái độ, hành động của một lũ đầu trâu mặt ngựa, vừa ăn cướp, vừa la làng, “Sạch sành sanh vét cho đầy túi tham” (Truyện Kiều). Hậu quả của những vụ cướp bóc trắng trợn ấy là: Người dân bị buộc tội phải nộp tiền, phải “phá nhà huỷ tường… bỏ của ra kêu van chí chết” và tự mình phải “đập bỏ núi non bộ hoặc phá bỏ cây cảnh để tránh khỏi tai vạ”. Người dân phải chịu biết bao nhiêu cảnh đau đớn, bao nhiêu bất công, phi lí. Chính tại gia đình Phạm Đình Hổ – một gia đình quý tộc cận kề phủ chúa – cũng bị cái hoạ ăn cướp kia gieo xuống. Trước nhà tiền đường trồng một cây lê hoa trắng xoá thơm lừng, trước nhà trung đường trồng hai cây lựu ra quả trông rất đẹp … “Bà cung nhân ta đều sai chặt đi cũng là vì cớ ấy”. So với giọng văn kể chuyện các gia đình khác quanh kinh thành bị quấy nhiễu, giọng kể ở đoạn văn cuối này có vẻ như nhẹ nhàng hơn, song nó tô đậm thêm tính hiện thực, tăng thêm ý nghĩa phê phán, tố cáo. Bởi vì, nạn cướp bóc, sách nhiễu ở thời Trịnh Sâm đã trở thành cơn sốc trong xã hội, không chỉ gây đau khổ cho dân thường mà còn đe dọa cả những gia đình quyền quý, quan lại, không chỉ cướp bóc của cải vật chất mà còn huỷ diệt cả những thú vui tao nhã mang tính văn hoá truyền thống của biết bao gia đình Việt Nam chúng ta. Những từ ngữ cuối đoạn văn dừng lại, nhưng lời kể của tác giả vẫn còn vương vấn ngân nga trong lòng chúng ta những cảm giác xót xa, nuối tiếc, thương cho cây đẹp, hoa thơm, cảm thống với những con người phải sống trong một xã hội phong kiến hỗn loạn mục nát đến như vậy.

Đoạn tùy bút “Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh” ấy không chỉ có giá trị hiện thực, phơi bày bộ mặt xấu xa của chúa, của bọn quan lại, lính tráng mà còn hấp dẫn bạn đọc bởi một ngòi bút tài hoa. Phạm Đình Hổ đã ghi chép người thực, việc thực rất cụ thể, chính xác, theo trí nhớ, cảm xúc, suy nghĩ của riêng mình. Từ ngữ câu văn tự nhiên, trôi chảy, không bị gò bó bởi cốt truyện, nhân vật…như trong truyện ngắn. Khi kể chuyện, lúc chuyển sang miêu tả, ngẫu hứng thì điểm vào một dự cảm, dự báo, nhịp văn lúc khoan thai, khi dồn dập nhấn mạnh, … ngỡ như buông thả tự do nhưng tác phẩm vẫn tập trung vào một chủ đề, toát lên cảm xúc trữ tình rõ nét của tác giả.

Nói tóm lại, bằng thể văn tùy bút ghi chép tùy hứng những sự việc một cách cụ thể, chân thực, sinh động, Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh giúp chúng ta hiểu về đời sống xa hoa vô độ của bọn vua chúa, quan lại phong kiến thời vua Lê, chúa Trịnh suy tàn nửa cuối thế kỉ XVIII. Đó là một xã hội đầy rẫy những dấu hiệu không lành, những điềm gở đáng chê trách và đáng xóa bỏ. Lịch sử đã xóa bỏ cái xã hội ấy.

Kết luận

Hy vọng với các giải đáp trên thì mong là quý độc giả đã biết được cách ” Soạn bài Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh (Trích Vũ trung tùy bút)” chuẩn và chính xác nhất hiện nay. Các thông tin trên được admin cập nhật cũng như thu thập thông tin từ nhiều nguồn chuẩn xác, hy vọng các bạn sẽ thích và ủng hộ cho Chamhocbai.com.

Bài viết đã được cập nhật mới nhất vào 02/2024!