Updated at: 03-04-2023 - By: Thầy Vũ Xuân Anh

Admin Chăm Học Bài hôm nay sẽ hướng dẫn các bạn cách ” Soạn bài Ánh trăng” chuẩn nhất 02/2024.

Soạn bài Ánh trăng- Mẫu 1

Video hướng dẫn giải

Câu 1

Video hướng dẫn giải

Trả lời câu 1 (trang 157 SGK Ngữ văn 9, tập 1):

– Bố cục (3 phần)

+ Phần 1 ( hai khổ thơ đầu): Cảm nghĩ về vầng trăng trong quá khứ.

+ Phần 2 (hai khổ tiếp): Cảm nghĩ về vầng trăng trong hiện tại.

+ Phần 3 (hai khổ cuối): Suy ngẫm của tác giả về trăng.

– Nhận xét: bố cục bài thơ diễn ra theo trình tự thời gian, sự việc nào diễn ra trước kể trước, sự việc nào diễn ra sau kể sau.

– Trong dòng diễn biến theo thời gian, sự việc bất thường ở khổ thơ thứ tư chính là bước ngoặt để từ đó tác giả bộc lộ cảm xúc, thể hiện chủ đề của tác phẩm.

Lời giải chi tiết:

Bài thơ có bố cục ba phần, ở mỗi phần có sự thay đổi giọng thơ:

– Hai khổ đầu: Vầng trăng trong quá khứ.

– Hai khổ tiếp: Vầng trăng trong hiện tại.

– Hai khổ cuối: Cảm xúc và suy ngẫm của tác giả trước vầng trăng.

=> Trong dòng diễn biến theo thời gian, sự việc bất thường ở khổ thơ thứ tư chính là bước ngoặt để từ đó tác giả bộc lộ cảm xúc, thể hiện chủ đề của tác phẩm. Từ đây, hai khổ năm và sáu có sự chuyển đổi giọng điệu: tha thiết rồi trầm lắng cùng cảm xúc suy tư lặng lẽ.

Câu 2

Video hướng dẫn giải

Trả lời câu 2 (trang 157 SGK Ngữ văn 9, tập 1):

– Hình ảnh vầng trăng trong bài thơ mang nhiều tầng lớp ý nghĩa:

+ Vầng trăng của thiên nhiên.

+ Biểu tượng cho quá khứ đẹp đẽ.

+ Trăng là biểu tượng cho tình nghĩa, cho tình cảm gắn bó.

– Khổ thơ cuối thể hiện tập trung nhất ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh vầng trăng, chiều sâu tư tưởng của tác phẩm. Con người có thể vô tình, có thể lãng quên nhưng vầng trăng nghĩa tình, quá khứ thì luôn tròn đầy, nguyên vẹn và bất diệt. Ánh trăng như muốn nhắc nhở con người về quá khứ thiêng liêng, về sự bội bạc.

Lời giải chi tiết:

– Hình ảnh vầng trăng trong bài thơ mang nhiều tầng lớp ý nghĩa:

+ Vầng trăng trước hết là trăng của thiên nhiên, của đất trời.

+ Trăng là biểu tượng cho những gì gắn bó với con người lúc gian khổ.

+ Trăng là tình cảm quá khứ hồn nhiên, tươi đẹp.

+ Trăng cũng là phần trong sáng, phần tốt đẹp trong con người luôn soi rọi, chiếu sáng những góc khuất, góc tối mới nảy sinh khi con người sống với nhà lầu, cửa gương, với những tiện nghi vật chất.

– Khổ thơ cuối thể hiện tập trung nhất ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh vầng trăng, chiều sâu tư tưởng mang tính triết lý của tác phẩm”. “Trăng cứ tròn vành vạnh” như tượng trưng cho quá khứ đẹp dẽ, nguyên vẹn chẳng thể phai mờ. Quá khứ đẹp đẽ vĩnh hằng trong vũ trụ: “ánh trăng im phăng phắc” như một người bạn, một nhân chứng nghĩa tình mà nghiêm khắc. Cái im lặng ấy như đang nhắc nhở nhà thơ, nhắc nhở tất cả chúng ta. Con người có thể vô tình, có thể lãng quên nhưng thiên nhiên nghĩa tình, quá khứ thì luôn tròn đầy, bất diệt, hồn hậu và rộng lượng.

Câu 3

Video hướng dẫn giải

Trả lời câu 3 (trang 157 SGK Ngữ văn 9, tập 1):

Kết cấu:

– Hai khổ thơ đầu: hình ảnh vầng trăng trong quá khứ.

-> Những ngày tháng ấy khắc ghi trong lòng mối tình với vầng trăng tình nghĩa, vầng trăng tri kỷ.

– Khổ thơ thứ ba: vầng trăng hiện tại -> đã trở thành người dưng.

– Khổ thơ thứ tư: sự việc bất thường  (mất điện, tối om, bật tung cửa bỗng thấy vầng trăng -> tạo bước ngoặt để tác giả bộc lộ cảm xúc.

– Hai khổ thơ sau: suy ngẫm của tác giả như một sự hối hận, tự vấn.

* Giọng điệu:

– Giọng điệu tâm tình, nhịp thơ khi tuôn chảy tự nhiên, nhịp nhàng theo nhịp kể, khi ngân nga, khi trầm lắng suy tư.

=> Tất cả những điều đó góp phần quan trọng trong việc bộc lộ những cảm xúc sâu xa của một người lính khi nghĩ về chiến tranh, về quá khứ.

Câu 4

Video hướng dẫn giải

Trả lời câu 4 (trang 157 SGK Ngữ văn 9, tập 1):

– Bài thơ được viết năm 1978, sau hòa bình ba năm.

– Chủ đề: bài thơ không chỉ là chuyện của riêng nhà thơ mà có ý nghĩa đối với cả một thế hệ bởi vì nó đặt ra vấn đề về thái độ với quá khứ, với người đã khuất, với cả chính mình.

– Chủ đề liên quan đến đạo lí “Uống nước nhớ nguồn” thủy chung tình nghĩa của dân tộc Việt Nam.

Lời giải chi tiết:

– Bài thơ viết năm 1978 sau hòa bình ba năm. Những người kháng chiến gian khổ ở rừng núi đã trở về thành phố. Họ có một cuộc sống mới thời bình. Các phương tiện sống khác xa thời chiến tranh. Câu chuyện riêng này là lời tự nhắc nhở thấm thía về thái độ, tình cảm đối với quá khứ gian lao, tình nghĩa, đối với thiên nhiên, đất nước, bình dị hồn hậu.

– Bài thơ không chỉ là chuyện của riêng nhà thơ mà có ý nghĩa đối với cả một thế hệ. Hơn thế bài thơ có ý nghĩa với nhiều người, nhiều thời, bởi vì nó đặt ra vấn đề thái độ với quá khứ, với người đã khuất, với cả chính mình.

– Bài thơ nằm trong mạch cảm xúc “Uống nước nhớ nguồn” gợi đạo lý thủy chung tình nghĩa. Đó là truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.

Luyện tập

* Gợi ý trả lời:

– Về quá khứ trước đây: sự gắn bó khăng khít của nhân vật trữ tình và vầng trăng.

– Hòa bình lập lại có sự thay đổi thế nào?

– Sự kiện nào khiến “tôi” nhận ra những sai lầm của mình.

– Rút ra bài học, ý nghĩa cho mình và những người khác.

Đoạn văn tham khảo:

Với tôi trăng như người bạn tri kỉ cùng tôi đi qua những năm tháng cuả tuổi thơ. Ngày ấy, tôi và trăng rất gần gũi, hồn nhiên, vô tư với nhau. Khi lớn lên, tôi tham gia chiến tranh, trăng cũng theo tôi vào ở rừng. Trong những ngày tháng gian lao ấy, trăng đã trở thành người bạn đồng hành cùng tôi qua những thăng trầm cuộc đời. Rồi hòa bình lập lại, tôi trở về thành phố với cuộc sống hiện đại, tiên nghi. Đắm chìm trong cuộc sống ấy, tôi vô tình đã lãng quên vầng trăng và quên đi cả lời hứa năm xưa của mình. Tôi đã quay lưng lại với vầng trăng, quay lưng lại với quá khứ, với thiên nhiên và chính mình. Trong một lần mất điện, tôi đã gặp lại vầng trăng. Trăng vẫn thế, vẫn tròn đầy, thủy chung và không trách cứ tôi nhưng tôi thấy thật ăn năn và hối hận vì sự vô tâm, bạc bẽo của mình.

ND chính

Video hướng dẫn giải

Bài thơ là sự nhắc nhở về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước rất bình dị, hiền hậu. Qua đó nhắc nhở người đọc phải có một thái độ sống “ Uống nước nhớ nguồn”, thủy chung ân tình với quá khứ, nhớ quên là lẽ thường tình, quan trọng là biết thức tỉnh lương.

Soạn bài Ánh trăng- Mẫu 2

I. Tác giả

– Nguyễn Duy, tên khai sinh là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh năm 1948, quê ở làng Quảng Xá, nay thuộc phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa.

– Năm 1966, Nguyễn Duy gia nhập quân đội, vào binh chủng Thông tin, tham gia chiến đấu ở nhiều chiến trường.

– Sau năm 1975, ông chuyển vào làm báo Văn nghệ giải phóng.

– Từ năm 1977, Nguyễn Duy đại diện thường trú báo Văn nghệ tại Thành phố Hồ Chí Minh.

– Năm 2007, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật.

– Ông còn được trao giải Nhất cuộc thi thơ của báo Văn nghệ năm 1972 – 1973.

– Ông trở thành gương mặt tiêu biểu trong lớp nhà thơ trẻ thời chống Mĩ cứu nước và tiếp tục bền bỉ sáng tác.

– Một số tác phẩm: Cát trắng (1973), Ánh trăng (1978), Đãi cát tìm vàng (1987), Đường xa (1989), Quà tặng (1990)…

II. Tác phẩm

1. Hoàn cảnh sáng tác

– Bài thơ Ánh trăng được Nguyễn Duy sáng tác năm 1978, được in trong tập thơ cùng tên.

– Tập thơ Ánh trăng được tặng giải A của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1984.

2. Bố cục

Gồm 3 phần:

  • Phần 1. Ba khổ thơ đầu: Hình ảnh vầng trăng trong quá khứ, ở hiện tại.
  • Phần 2. Khổ thơ thứ tư: Tình huống gặp lại vầng trăng.
  • Phần 3. Hai khổ cuối: Cảm xúc và suy ngẫm của nhà thơ.

III. Đọc – hiểu văn bản

1. Hình ảnh vầng trăng trong quá khứ và hiện tại

a. Khổ 1 và 2: Ánh trăng trong quá khứ

– “Hồi nhỏ”, “hồi chiến tranh”: dấu mốc thời gian.

– Phép liệt kê tăng cấp: “đồng”, “sông”, “bể” – không gian mở rộng từ quê hương đến đất nước.

– “vầng trăng thành tri kỉ”: khi đất nước có chiến tranh, trong những năm tháng gian khổ phải ở nơi rừng núi, ánh trăng đã trở thành người bạn gắn bó.

– Hình ảnh “trần trụi với thiên nhiên”, “hồn nhiên như cây cỏ” : gợi lối sống đơn giản, mộc mạc và gần gũi với thiên nhiên.

– Từ “ngỡ”: nghĩ vậy, tưởng vậy mà kết quả lại không được như vậy.

– “Cái vầng trăng tình nghĩa”: hình ảnh nhân hóa, khẳng định mối quan hệ gắn bó khăng khít.

b. Khổ 3: Ánh trăng ở hiện tại

– “Hồi về thành phố”: khi chiến tranh kết thúc, người lính từ giã núi rừng để trở về thành phố hiện đại.

– “quen ánh điện cửa gương” chỉ cuộc sống đầy đủ tiện nghi, hiện đại.

– Hình ảnh so sánh: “vầng trăng đi qua ngõ/như người dưng qua đường” – sự lãng quên, bội bạc của con người.

2. Tình huống gặp lại vầng trăng

– Tình huống bất ngờ: từ “thình lình”, “đột ngột” – mất điện khiến “phòng buyn-đinh tối om”.

– Hành động của nhân vật trữ tình: “vội bật tung cửa sổ” – khẩn trương, mạnh mẽ tìm nguồn ánh sáng.

– Ánh trăng tròn bỗng nhiên xuất hiện: khiến con người bỗng cảm thấy bàng hoàng, xúc động.

3. Cảm xúc và suy ngẫm của nhà thơ

– Tư thế đối mặt “ngửa mặt lên nhìn mặt”: trực tiếp đối mặt

– Cảm xúc khi đối mặt với vầng trăng:

  • Có cái gì rưng rưng: sự xúc động, nghẹn ngào
  • Như là đồng là bể/như là sống là rừng: nhớ lại kỉ niệm của những năm tháng chiến tranh, bên đồng đội, bên vầng trăng.

– “Trăng cứ tròn vành vạch”: hình ảnh tả thực miêu tả độ tròn đầy của ánh trăng, hình ảnh biểu tượng thể hiện tình nghĩa trọn vẹn, thủy chung của thiên nhiên.

– Hình ảnh nhân hóa “kể chi người vô tình/ánh trăng im phăng phắc”: thái độ bao dung trước sự vô tình của con người.

– Câu thơ cuối “đủ cho ta giật mình”: sự thức tỉnh của con người.

Tổng kết:

– Nội dung: Bài thơ như một lời tự nhắc nhở về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước bình dị và hiền hậu. Đó cũng chính là lời nhắc nhở về truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc.

II. Luyện tập

Tưởng tượng mình là nhân vật trữ tình trong bài Ánh trăng, em hãy diễn tả dòng cảm nghĩ trong bài thơ thành một bài tâm sự ngắn.

Gợi ý:

Từ khi còn nhỏ, tôi sống gần gũi với đồng ruộng quê hương. Trăng giống như một người bạn với tôi. Trong những năm kháng chiến, tôi tham gia cuộc chiến, ánh trăng trở thành tri kỉ. Tôi ngỡ rằng bản thân không bao giờ có thể quên được vầng trăng tình nghĩa ấy. Nhưng chiến tranh qua đi, tôi trở về với thành phố. Ánh điện, cửa gương khiến tôi quên đi vầng trăng. Ánh trăng đi qua mà xa lạ ngỡ như là người dưng. Bỗng một hôm, đèn điện thình lình vụt tắt. Tôi vội vàng bật tung cửa sổ, đột ngột nhìn thấy vầng trăng tròn chiếu sáng khắp không gian. Lúc này, khi đối mặt với ánh trăng, tôi rưng rưng nhớ lại những kỉ niệm trong quá khứ. Ánh trăng vẫn thế, tròn đầy và thủy chung, không trách cứ sự bội bạc của tôi. Tôi cảm thấy hối hận trước sự bội bạc của mình.

Soạn bài Ánh trăng- Mẫu 3

A. Nội dung tác phẩm Ánh trăng

Bài thơ là câu chuyện nhỏ được kể theo trình tự thời gian từ quá khứ đến hiện tại gắn với các mốc sự kiện trong cuộc đời con người. Theo dòng tự sự ấy, mạch cảm xúc đi từ quá khứ đến hiện tại và lắng kết trong cái “giật mình” cuối bài thơ. Từ một câu chuyện riêng, bài thơ như một lời nhắc nhở chính mình, củng cố, cảnh tỉnh ở người đọc về thái độ sống “uống nước nhớ nguồn”, ân nghĩa thuỷ chung với qúa khứ.

B. Đôi nét về tác phẩm Ánh trăng

1. Tác giả

– Nguyễn Duy (1948) tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ

– Quê quán: Xã Đông Vệ, huyện Đông Sơn (nay là phường Đông Vệ – Thanh Hóa)

– Sự nghiệp sáng tác:

+ Nguyễn Duy làm thơ từ rất sớm, từ khi học cấp ba.

+ Năm 1973, ông đã đoạt giải nhất cuộc thi thơ tuần báo văn nghệ với chùm thơ vô cùng xuất sắc.

+ Ngoài việc sáng tác thơ ông còn viết tiểu thuyết và bút kí

+ Năm 2007, Nguyễn Duy được Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật

+ Những tác phẩm tiểu biểu: “Đãi cát tìm vàng”, “Bụi”, “Mẹ và em” …

– Phong cách sáng tác: Thơ Nuyễn Duy giàu chất triết lí, thiên về chiều sâu nội tâm với những trăn trở, day dứt và suy tư.

2. Tác phẩm

a. Hoàn cảnh sáng tác

“Ánh trăng” là một bài thơ hay viết vào năm 1978 – 3 năm sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam. Bài thơ được viết tại Thành phố Hồ Chí Minh, in trong tập “Ánh trăng”.

b. Bố cục

3 phần:

– 2 khổ đầu: Cảm nghĩ về vầng trăng quá khứ.

– 2 khổ giữa: Những thay đổi trong mối quan hệ của nhà thơ với vầng trăng.

– 2 khổ cuối: Cảm xúc và suy ngẫm của tác giả.

c. Ý nghĩa nhan đề

– Ánh trăng là ánh sáng của vầng trăng, ánh sáng soi rọi lương tâm, soi vào những góc khuất trong tâm hồn con người khiến cho con người phải giật mình thức tỉnh nhận ra những sai lầm và vươn tới những điều tốt đẹp.

– Nhan đề thể hiện chủ đề của bài thơ: củng cố và gợi nhắc thái độ sống ân tình thủy chung với quá khứ, đó là truyền thống uống nước nhớ nguồn, ân tình thủy chung với quá khứ.

d. Giá trị nội dung

Bài thơ là sự nhắc nhở về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước rất bình dị, hiền hậu. Qua đó nhắc nhở người đọc phải có một thái độ sống “Uống nước nhớ nguồn”, thủy chung ân tình với quá khứ, nhớ quên là lẽ thường tình, quan trọng là biết thức tỉnh lương tâm.

e. Giá trị nghệ thuật

– Thể thơ năm chữ, bố cục rõ ràng, mạch lạc.

– Kết hợp nhuần nhuyễn giữa trữ tình và tự sự.

– Hình ảnh thơ vừa cụ thể, vừa sinh động vừa khát, giàu tính biểu cảm.

– Giọng điệu tâm tình tự nhiên như lời tâm sự của nhân vật trữ tình.

C. Sơ đồ tư duy Ánh trăng

Ánh trăng - tác giả, nội dung, bố cục, tóm tắt, dàn ý

D. Đọc hiểu văn bản Ánh trăng

1. Cảm nghĩ về vầng trăng quá khứ (hai khổ đầu)

– Điệp từ hồi được lặp đi lặp lại ba lần → bắt đầu dòng hồi tưởng, gắn kết thời gian hiện tại với quá khứ ; làm cho giọng thơ như một lời thủ thỉ tâm tình.

– Ánh trăng gắn bó với kỉ niệm trong sáng của tuổi thơ.

– Biện pháp điệp : với + Biện pháp liệt kê : đồng ; sông ; bể → thiên nhiên bao la khoáng đạt, con người sống gắn bó chan hòa với thiên nhiên

– Ánh trăng gắn với kỉ niệm năm tháng kháng chiến gian khổ

+“Hồi chiến tranh ở rừng” → những năm tháng gian khổ, ác liệt thời chiến tranh,

+ Biện pháp nhân hóa (vầng trăng thành tri kỉ) → trăng là người bạn thân thiết, tri âm tri kỉ, là đồng chí cùng chia sẻ những vui buồn, khó khăn gian khổ trong kháng chiến với người lính.

-Biện pháp nhân hóa, so sánh (Trần trụi với thiên nhiên/ hồn nhiên như cây cỏ) → vẻ đẹp bình dị, mộc mạc, trong sáng, rất đỗi vô tư, hồn nhiên của vầng trăng. Đó cũng chính là hình ảnh con người lúc bấy giờ (vô tư, hồn nhiên, trong sáng, sống hòa mình với thiên nhiên).

– Ngỡ không bao giờ quên/Cái vầng trăng tình nghĩa :

+ Biện pháp nhân hóa (vầng trăng tình nghĩa) → con người luôn coi trăng là người bạn tri kỉ của mình và đinh ninh không bao giờ quên.

Ngỡ : tưởng vậy mà thực tế về sau không phải như vậy. Con người đinh ninh không bao giờ quên trăng nhưng thời gian trôi đi, con người đã lãng quên.

→ Vầng trăng đã gắn bó thân thiết với con người từ lúc nhỏ đến lúc trưởng thành, cả trong hạnh phúc và gian lao.

+ Trăng là vẻ đẹp của đất nước bình dị, hiền hậu của thiên nhiên vĩnh hằng, tươi mát, thơ mộng.

→ Vầng trăng vừa là người bạn tri kỉ vừa biểu tượng cho quá khứ nghĩa tình, thủy chung, cho sự đùm bọc của nhân dân, đất nước đối với những người lính trong những năm kháng chiến gian khổ.

2. Những thay đổi trong mối quan hệ của nhà thơ với vầng trăng

– Hoàn cảnh dẫn đến thay đổi :

+ Xa cách về thời gian

+ Thay đổi về không gian sống (thành phố) : nơi phồn hoa, đô hội. Biện pháp hoán dụ: ánh điện cửa gương gợi cuộc sống đầy đủ tiện nghi, hiện đại.

→ Không gian sống thay đổi → con người sống cách biệt với thiên nhiên, vầng trăng; thời gian xa cách → con người đã quen với cuộc sống mới tiện nghi, hấp dẫn.

– Biệp pháp nhân hóa : vầng trăng đi qua ngõ → trăng vẫn thủy chung âm thầm, lặng lẽ.

– Biện pháp so sánh: như người dưng qua đường → Tình cảm của con người dành cho vầng trăng đã thay đổi: Vầng trăng từ người bạn tri kỉ → trở thành người dưng qua đường. Con người hờ hững thờ ơ, lãng quên và vô tình với trăng.

→ Sự cách biệt về thời gian và không gian sống → khiến cho tình cảm giữa người và trăng thay đổi. Con người hờ hững thờ ơ, lãng quên và vô tình với trăng, cũng chính là quên đi gian khổ, nghĩa tình trong quá khứ. Nét tâm lí này không phải là hiếm gặp, nên người ta vẫn thường nhắc nhở nhau: ngọt bùi nhớ lúc đắng cay.

* Khổ 4 : Tình huống gặp lại vầng trăng

– Từ láy thình lình + biện pháp đảo ngữ → nhấn mạnh tình huống bất ngờ làm chuyển đổi mạch cảm nghĩ: tình huống gặp lại trăng do đèn điện tắt. Đến lúc ấy con người nhận ra sự chật hẹp, bức bách, ngột ngạt của không gian đô thị và như một phản ứng tự nhiên, nhân vật trữ tình vội bật tung cửa sổ tìm nguồn sáng.

– Động từ mạnh vội, bật tung → bộc lộ trạng thái cảm xúc mạnh mẽ, những hành động rất nhanh như phạn xạ tự nhiên tìm nguồn sáng.

– Từ láy : đột ngột + đảo ngữ → nhấn mạnh cảm giác ngỡ ngàng, thảng thốt của con người khi bất ngờ gặp lại vầng trăng bên ngoài cửa sổ. Vầng trăng vẫn tròn đầy, và đã ở đó tự bao giờ.

– Thực ra, vầng trăng tròn đâu phải chỉ khi đèn điện tắt mới xuất hiện. Chỉ có điều con người có nhận ra hay không. Nh­ư vậy hành động “bật tung cửa sổ” không chỉ đơn thuần là mở cánh cửa sổ phòng mình mà còn là mở cửa tâm hồn : Mình đối diện với tri kỷ với tình nghĩa mà bấy lâu nay mình dửng dư­ng. Đó hẳn là một cuộc “đối diện đàm tâm ” Đối diện với chính mình của quá khứ và đối diện với mình của hiện tại.

→ Trăng biểu tượng cho giá trị vĩnh hằng, không thay đổi.

3. Cảm xúc và suy ngẫm của tác giả

* Khổ 5: Những xúc động mạnh liệt của nhà thơ khi gặp lại trăng

– Mặt nhìn mặt → tư thế tập trung, có phần thành kính.

– Từ mặt thứ 2 trong câu thơ đầu được dùng với ý nghĩa chuyển theo phương thức ẩn dụ → mặt người đối diện với mặt trăng.

– Cuộc gặp mặt với vầng trăng → gọi về bao kỉ niệm:

+ Từ láy rưng rưng → trạng thái ngân ngấn lệ, sắp khóc, cảm xúc xao xuyến, bồi hồi gặp lại tri kỉ, đan xen niềm ân hận, day dứt, xót xa vì đã lỡ lãng quên trăng, có cả sự xót xa tiếc nuối.

+ Phép liệt kê : đồng, sông, bể + biện pháp so sánh : như là → nhịp thơ trở nên dồn dập, mạnh mẽ hối hả, diễn tả sự dâng trào của cảm xúc trước sự ùa về của kỉ niệm sống động trong kí ức: lúc ấy con người và vầng trăng sống chan hòa, là tri âm tri kỉ.

→ Trong khoảnh khắc bất ngờ gặp lại vầng trăng, vầng trăng đã gọi về những hồi ức cao đẹp, những xúc cảm trong trẻo thuần khiết của tuổi ấu thơ; gọi bao nhiêu cảnh tượng rộng lớn của thiên nhiên đất nước bình dị, và gọi về quá khứ nghĩa tình gian lao.

→ Nhà thơ đối diện với trăng là đối diện với tuổi ấu thơ, tuổi trưởng thành, tuổi hoa niên và một phần của cuộc đời

Khổ 6: Suy ngẫm và triết lí sâu sắc của nhà thơ

– Hình ảnh ẩn dụ: “Trăng tròn vành vạnh” + phó từ cứ → trăng vẫn nguyên vẹn, không hề thay đổi, mang vẻ đẹp cho thiên nhiên vĩnh hằng. Hình ảnh này ẩn dụ cho tình cảm tròn đầy, vẹn nguyên của nghĩa tình quá khứ, của thiên nhiên, cuộc đời, đất nước, nhân dân nhân hậu bao dung.

– Biện pháp tương phản đối lập:

Trăng tròn vạnh vạnh >< Người vô tình → con người có thể vô tình lãng quên, nhưng thiên nhiên, nghĩa tình quá khứ thì luôn tròn đầy, bất diệt.

+ Đối lập trạng thái: cái im phăng phắc của vầng trăng và cái giật mình thức tỉnh của con người khi soi vào vàng trăng ấy.

– Ánh trăng im phăng phắc → trăng được nhân hóa thành người bạn, một chứng nhân tình nghĩa mà nghiêm khắc, trăng nghiêm khắc phê phán nhưng không một lời trách cứ, gợi ta liên tưởng tới cái nhìn nghiêm khắc mà bao dung, độ lượng của người bạn thủy chung, tình nghĩa. Chính sự nghiêm khăc, bao dung độ lượng của trăng đã cảm hóa khiến con người phải tự vấn lòng mình để mà giật mình nhận ra sự vô tình bạc bẽo của mình.

– Soi vào vầng trăng tròn vành vạnh lặng lẽ tỏa sáng, vừa độ lượng, vừa nghiêm khắc con người “giật mình”:

+ Giật mình, thấu hiểu hơn sự thủy chung, vẹn nguyên của vầng trăng và cũng nhận ra sự thay đổi của bản thân, sự vô tình bạc bẽo của bản thân đối với quá khứ ân tình.

+ Giật mình là sự tự vấn lương tâm để tự nhắc nhở tự cảnh tỉnh với chính mình để sống có ân nghĩa, thủy chung với quá khứ gian khổ mà đẹp đẽ của đồng đội, của nhân dân.

→ đây là sự ăn năn nhân bản, sự thức tỉnh của nhân cách.

– Tác giả dùng ánh trăng không phải vầng trăng → vì ánh trăng là ánh sáng dịu hiền, có khả năng len lẻn vào trong phần khuất lấp của tâm hồn → thức tỉnh con người hướng đến những giá trị tốt đẹp.

→ Triết lí : gợi nhắc và củng cố thái độ sống thủy chung ân tình với quá khứ, đó là đạo lí uống nước nhớ nguồn.

E. Bài văn phân tích Ánh trăng

Nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã từng nhận định “Tác phẩm vừa là kết tinh của tâm hồn người sáng tác, vừa là sợi dây truyền cho mọi người sự sống mà nghệ sĩ mang trong lòng”. Với bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy, nhận định đó trở nên đúng đắn và xác thực hơn bao giờ hết. Qua mạch cảm xúc dâng trào mãnh liệt, ta cảm nhận được một ngòi bút sâu sắc, một trái tim tinh tế rung động, trước những đổi thay nhỏ bé nhất, và cả một khát khao ước vọng truyền cho mọi người lẽ sống, cách sống trọn vẹn, tình nghĩa.

Nguyễn Duy sinh năm 1948, ông thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành từ kháng chiến chống Mĩ. Thơ ông thiên về chiều sâu nội tâm với những trăn trở day dứt, suy tư. Trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Duy, lung linh rực rỡ một “ánh trăng” tròn đầy. Ánh trăng ấy là lời thức tỉnh nhẹ nhàng mà hết sức sâu sắc về triết lí nhân sinh, lẽ sống thủy chung, tình nghĩa và những trăn trở suy nghĩ trước cuộc sống hiện đại đầy cám dỗ, đầy lãng quên và vô tình.

Hai khổ thơ đầu tiên gợi lại những kỉ niệm đẹp, những tình cảm gắn bó giữa con người và vầng trăng trong quá khứ. Bốn câu thơ nhẹ nhàng như những lời thủ thỉ, tâm tình, kể về một quãng thời gian của tuổi thơ, tuổi trẻ, nhất là quãng thời gian chiến tranh gian khổ. Ngôn ngữ thơ mộc mạc, bình dị: “hồi nhỏ”, “hồi chiến tranh”. Câu thơ mở ra một không gian bao la, mênh mông sông nước, khoảng trời ấy nuôi lớn cả một tâm hồn tuổi thơ với bao khát vọng, khoảng rộng ấy được mở ra rồi thu lại khăng khít, gắn bó với quá khứ biết bao tình nghĩa. Điệp từ “với” được nhắc lại ba lần, nhấn mạnh sự thân thiết, gần gũi giữa con người với thiên nhiên:

Hồi nhỏ sống với đồng
với sông rồi với bể
hồi chiến tranh ở rừng
vầng trăng thành tri kỉ

Cuộc sống “hồi nhỏ”, “hồi chiến tranh” tuy khó khăn, vất vả mà chan hòa với thiên nhiên. Cuộc sống ấy bình dị, vô tư và mênh mông hoài bão như thiên nhiên, như cánh rừng mặt bể. Chợt nhận ra, ta có một người bạn hiền hòa, gắn bó, “tri kỉ” – vầng trăng tròn đầy, hiền dịu. vẻ đẹp của trăng xoa dịu những vết thương do chiến tranh gây ra, xoa dịu những mỏi mệt, buồn đau của cuộc sống ấy; trăng vỗ về cho con người bằng những sẻ chia lặng im, bằng những đêm sát cánh bên nhau “đầu súng trăng treo”. Trăng theo ta trên mọi bước đường đi, là người bạn đồng hành tin cậy nhất. Vì lẽ ấy, trăng chính là hiện thân của quá khứ, của kí ức chan hòa tình nghĩa:

Trần trụi với thiên nhiên
hồn nhiên như cây cỏ
ngỡ không bao giờ quên
cái vầng trăng tình nghĩa.

Vầng trăng đã được nhân hóa cao độ để trở thành người bạn tinh thần của nhà thơ, một người bạn tri âm tri kỉ tưởng chừng sẽ không bao giờ quên được. Thế nhưng, giữa dòng hồi tưởng tươi đẹp và bình yên, tác giả chợt bất ngờ có những băn khoăn, vướng bận, mơ hồ, báo hiệu cho sự xuất hiện của những biến chuyển trong câu chuyện. Từ “ngỡ” như điểm tiếp nối tinh tế giữa hai khổ thơ, làm bài thơ giữ được nét uyển chuyển trong cả nội dung và ngôn từ.

Khép lại nhẹ nhàng đẹp như mơ trong quá khứ ngòi bút tác giả đưa ta đến với hiện tại, với những đổi thay, xa cách trong lòng người. Chiến tranh qua đi, người lính trở về guồng quay xô bồ và náo nhiệt của cuộc sống. Tác giả nhận ra một quy luật đáng buồn của cuộc sống: khi được sống trong nhung lụa ấm êm, con người ta dễ quay lưng lại với quá khứ vất vả, nghèo nàn, dù đó có là một quá khứ mơ mộng, đẹp đẽ và đáng quý. Quy luật ấy đi từ sự lãng quên, đổi thay quá nhanh của con người:

Từ hồi về thành phố
quen ánh điện cửa gương
vầng trăng đi qua ngõ
như người dưng qua đường

“ánh điện, cửa gương” là cách nói hoán dụ cho cuộc sống tiện nghi hiện đại, xa rời thiên nhiên. Từ đổi thay trong hoàn cảnh sống, lòng người cũng dần đổi thay, khó nhận ra, mà hay là đã nhận ra nhưng cố tình quên đi. Vầng trăng từ chỗ là người bạn thân thiết gắn bó trở thành “người dưng qua đường”. Vầng trăng thì một mực thủy chung tình nghĩa “đi qua ngõ” như đợi người bạn cũ nhận ra, thế nhưng người bạn cũ ngày xưa nay đã quen với ánh sáng của đèn điện vàng bọt giả tạo, giam mình trong bốn bức tường bê tông gạch đá chật hẹp tù túng mà tưởng cuộc sống đã sung sướng hơn xưa. Người ta đã để cho xi măng láng trơn tuột đi những rung động, xúc cảm tinh tế của trái tim, và trát kín cả những khe sáng huyền diệu từ quá khứ rọi về. Sống cuộc sống như thế, phải chăng ta đang đánh đổi cái giàu có trong tâm hồn lấy những tiện nghi hiện đại phù phiếm xa hoa, khi mà hạnh phúc đích thực luôn là một trái tim tràn đầy tình yêu thương!

Sự lãng quên ấy có thể là mãi mãi nếu không có một chuyển biến bất ngờ: thành phố bị mất điện. Hoàn cảnh bài thơ là bước ngoặt tạo cảm xúc dâng trào, giúp nhà thơ bộc lộ rõ nét cảm xúc, tư tưởng chủ đề của tác phẩm.

Thình lình đèn điện tắt
phòng buyn-đinh tối om
vội bật tung cửa sổ
đột ngột vầng trăng tròn

Tình huống tưởng như không có gì mới mẻ, lạ lẫm, nhất là những năm đầu giải phóng như thời điểm sáng tác bài thơ – năm 1978, nhưng đặt vào hoàn cảnh tác giả, nó làm nổi bật lên sự đối lập tương phản giữa ánh sáng và bóng tối. Các từ ngữ “thình lình”, “vội”, “bật tung” tạo nhịp thơ nhanh, mạnh; để rồi tất cả như sững lại, lặng đi bởi một vầng trăng tròn” “đột ngột” và lung linh. Chính khoảnh khắc ấy đã làm nổi bật lên ý nghĩa tuyệt đẹp của toàn bài: con người vội vã, gấp gáp với cuộc sống hiện đại khi nhận ra vẻ đẹp của thiên nhiên, cuộc sống thì thật bàng hoàng, sững sờ. Đã có “ánh điện” sáng trưng, người ta đâu cần ánh trăng huyền diệu lờ mờ nữa, chỉ đến khi thứ ánh sáng nhân tạo kia mất đi, người ta mới nhận ra người bạn cũ từng nguyện mãi mãi không quên và sững người trước người bạn trăng tròn đầy, vẹn nguyên, luôn chung thủy đợi chờ. Khoảnh khắc người và trăng mặt đối mặt thì tình xưa nghĩa cũ dâng lên đến tràn đầy. Cuộc hội ngộ bất ngờ tạo rung động mạnh mẽ và thức tỉnh lương tâm con người; cái “đột ngột” không phải ở trăng, mà ở chính tâm trạng tác giả – tâm trạng thảng thốt, ngỡ ngàng của con người trước sự đổi thay của lòng mình và sự vẹn tròn của trăng, để từ đó đi đến những day dứt, suy tư.

Nếu như khổ thơ thứ tư đẩy tình huống thơ đến cao trào thì khổ thơ thứ năm lại “rưng rưng” trong sự xúc động mãnh liệt của nhà thơ.

Ngửa mặt lên nhìn mặt
có cái gì rưng rưng
như là đồng là bể
như là sông là rừng

Nhà thơ đối diện với trăng trong cái lặng im có phần thành kính. Từ “mặt” cuối câu thơ là từ nhiều nghĩa tạo ý thơ, gợi mở cho người đọc. Nhà thơ đối diện với trăng hay thiên nhiên đối diện với con người? Và có lẽ cũng là hiện tại đối diện với quá khứ, bạc bẽo vô tình với thủy chung gắn bó. Bất ngờ gặp lại người bạn cũ, nhà thơ chợt nhận ra thứ mặt nạ của thời gian đã che lấp tất cả. Trong giây phút ấy, nhà thơ tưởng như “rưng rưng” xúc cảm – tự hổ thẹn với chính sự đổi thay vô tình của bản thân. Nhưng cũng đan xen vào nỗi hổ thẹn đó, một cảm xúc nghẹn ngào vui sướng đang len lỏi vào trái tim khô cằn bấy lâu nay của nhà thơ, gặp lại trăng – gặp lại người bạn cũ, ông chợt hồi tưởng lại một quãng thời gian thương nhớ, với đồng, với bể, với sông với rừng. Cuộc sống hiện tại như ngừng lại nhường chỗ cho dòng kí ức ùa về, nhường chỗ cho giây phút tự nhìn lại bản thân. Câu thơ trải dài bao quát cả quá khứ và hiện tại, thiên nhiên và con người, lao động và chiến đấu, thủy chung tình nghĩa và bạc bẽo vô tình. Trăng còn gợi đến hình ảnh của hiện tại, của vẻ đẹp thiên nhiên mơ màng hùng vĩ, gợi lên những bừng tỉnh đột ngột để nêu lên một khát vọng lớn lao vào tương lai. Nhịp thơ nhanh, với một loạt các từ ngữ liệt kê “đồng”, “biển”, “rừng”, “sông” cuốn vào mạch cảm xúc của bài thơ, giúp người đọc như cùng chung cảm xúc với nhân vật, với hoàn cảnh trữ tình.

Từ những hồi tưởng và thức tỉnh, nhà thơ đi đến suy ngẫm và triết lí nhân sinh sâu sắc khái quát nội dung toàn bài thơ:

Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình

Trong cuộc gặp mặt bất ngờ, trăng và người như có sự đối lập. Trăng trở thành biểu tượng của sự vĩnh hằng bất biến, vầng trăng “cứ tròn vành vạnh” tượng trưng cho sự tròn đầy, trọn vẹn tình nghĩa của thiên nhiên, cuộc sống và con người trong quá khứ dù cho con người nay đã đổi thay “vô tình”. Ánh trăng được nhân hóa “im phăng phắc”, gợi cái nhìn bao dung, độ lượng mà nghiêm khắc của người bạn thủy chung. Hình ảnh thơ được lấy từ hiện thực – thiên nhiên bất biến, vĩnh hằng để khái quát nên một lẽ sống cao đẹp 1 tình nghĩa, trọn vẹn, chung thủy và vị tha. Tấm lòng đáng trân trọng ấy là tấm lòng của những người đồng chí đồng đội một thời sống chết vì nhau của đồng bào nhân dân đã san sẻ từng “chia nhau củ sắn bùi/ Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”. Cao đẹp biết bao là tình người vị tha, bao dung, độ lượng, vị tha để, người bạn vô tình được “giật mình” thức tỉnh và kịp có một cơ hội níu giữ quá khứ, níu giữ tấm lòng trong sạch, thanh cao.

Có lẽ vì thế mà chỉ ánh nhìn “im phăng phắc” là đã đủ, câu thơ cuối dồn nén nghẹn ngào tạo âm vang lớn trong lòng người đọc về những bừng tỉnh suy tư.

Ánh trăng gây nhiều xúc động bởi cách diễn tả bình dị, thủ thỉ tâm tình, giọng thơ trầm tĩnh. Bài thơ không chỉ giống một câu chuyện nhỏ mà còn như một áng văn nghị luận xã hội đầy chất thơ. Sự mạch lạc tuần tự của tự sự và nghị luận giúp bài thơ đi vào tâm trí người đọc thật dễ dàng, tự nhiên, khắc sâu triết lí sống cao đẹp, thủy chung có tình có nghĩa, bộc lộ niềm băn khoăn trăn trở trước thực tại:

Mình về thành thị xa xôi
Nhà cao còn nhớ núi đồi nữa chăng
Phố đông còn nhớ bản làng
Sáng đèn còn nhớ mảnh trăng giữa rừng

Chất tự sự và chất trữ tình đan xen hòa quyện vào từng âm điệu, dòng thơ. Các chữ đầu dòng thơ không viết hoa thể hiện dòng cảm xúc mãnh liệt của tác giả. Nhịp thơ khi ngân nga, vang, vọng, khi dồn dập, mạnh mẽ, lúc trầm lắng ăm ắp suy tư tạo cho tác phẩm sự trôi chảy, mượt mà, tự nhiên và nhịp nhàng trong dòng cảm xúc dâng trào.

Câu chuyện của nhà thơ không chỉ dành riêng cho chính bản thân ông, nó còn có sức khái quát rất lớn với cả một thế hệ trải qua những năm dài mất mát của chiến tranh, nơi đạn bom, gian khổ. Câu chuyện của vầng trăng còn gặp lại nhiều câu chuyện khác – cùng với nỗi xót xa, trăn trở về cuộc sống đổi thay, như Ăn mày dĩ vãng với Ba Sương và Hai Hùng của Chu Lai, như Việt Bắc với “mình” và “ta” của Tố Hữu. Tất cả như đồng lòng nhất trí chung sức rung một hồi chuông lớn đến người đọc: đừng bao giờ quên quá khứ, đừng bao giờ sống bạc bẽo vô tình. Cuộc sống dẫu có đổi thay, lòng người dẫu có xa khác, nhưng đừng bao giờ quên đạo lí thủy chung “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc, đừng bao giờ đánh đổi tình nghĩa sâu nặng lấy những phù phiếm hão huyền.

Kết luận

Hy vọng với các giải đáp trên thì mong là quý độc giả đã biết được cách “Soạn bài Ánh trăng” chuẩn và chính xác nhất hiện nay. Các thông tin trên được admin cập nhật cũng như thu thập thông tin từ nhiều nguồn chuẩn xác, hy vọng các bạn sẽ thích và ủng hộ cho Chamhocbai.com.

Bài viết đã được cập nhật mới nhất vào 02/2024!