Updated at: 25-04-2023 - By: Thầy Vũ Xuân Anh

Admin Chăm Học Bài hôm nay sẽ hướng dẫn các bạn cách “Phân tích khổ đầu bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương” chuẩn nhất 06/2024.

 Dàn ý phân tích khổ thơ đầu bài thơ Viếng lăng Bác chi tiết nhất:

1.1. Mở bài:

Giới thiệu tác giả Viễn Phương, bài thơ Viếng lăng Bác và khổ thơ đầu của bài thơ.

Lưu ý: Học sinh có thể lựa chọn viết phần mở đầu trực tiếp hoặc gián tiếp tùy theo khả năng của bản thân.

1.2. Thân bài:

“Con vào Nam viếng lăng Bác”: lời tác giả giới thiệu với người đọc về hoàn cảnh ra đời của bài thơ và cũng là mạch cảm xúc của tác giả. Điều đó cho thấy người Việt Nam chúng ta dù ở đâu cũng luôn nhớ đến Bác Hồ kính yêu.

“Trong sương hàng tre dài miên man”: khung cảnh xung quanh lăng Bác được bao bọc bởi những hàng tre xanh quanh năm gợi cảm giác bình yên, thân thuộc bởi từ lâu cây tre đã được coi là biểu tượng của con người đất nước của chúng ta.

“Ôi tre xanh Việt Nam/ Mưa bão đứng thẳng hàng”: Hàng tre kiên cường bất chấp sự tác động, xáo trộn của thiên nhiên vẫn sừng sững giữa đất trời, canh giữ giấc ngủ cho Bác. Ngoài ra, hai câu ca dao này còn nói đến dân tộc Việt Nam bao đời nay vẫn giữ vững tinh thần anh dũng, bất khuất, không bị kẻ thù mua chuộc, thất bại.

→ Bốn câu thơ ngắn gọn, súc tích nhưng có ý nghĩa sâu sắc, vừa thể hiện tình cảm của tác giả đối với Bác Hồ, vừa là truyền thống, đức tính tốt đẹp của dân tộc Việt Nam ta.

1.3. Kết bài:

Tóm tắt khổ thơ đầu nói riêng, bài thơ Viếng lăng Bác nói chung và rút ra bài học, liên hệ thực tế.

Phân tích khổ đầu bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương- Mẫu 1

Khổ thơ đầu là những cảm xúc của nhà thơ khi đến thăm lăng Bác, đứng trước không gian, cảnh vật bên ngoài lăng. Câu thơ đầu “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác” như một thông báo giản dị mà chứa đựng bao tình cảm thân thương. Tác giả xưng “con” gọi “Bác” thể hiện tình cảm vừa gần gũi vừa thành kính. Đây là cách xưng hô thường thấy với Bác, nhưng với Viễn Phương, nó vẫn mang sắc thái tình cảm riêng, bởi ông là người con của miền Nam, miền Nam anh dũng chiến đấu, miền Nam trong trái tim Bác. Nhà thơ không nói ra “viếng” mà là ra “thăm”, như con về thăm cha, thăm nơi Bác nghỉ. Nỗi đau như cố giấu mà giọng thơ vẫn có gì ngậm ngùi.

Hình ảnh đầu tiên và cũng là ấn tượng đậm nét với tác giả khiến ông vang lên từ cảm thán “Ôi” bộc lộ cảm xúc chính là hình ảnh hàng tre. Dường như nóng lòng, hồi hộp, nhà thơ đã đến lăng từ rất sớm, từ “trong sương”, và tới đây nhà thơ lại bắt gặp một hình ảnh rất đỗi thân thương của quê hương Việt Nam: cây tre. Lăng Bác như ở trong tre, giữa tre. Hàng tre “bát ngát” chạy dài quanh lăng, “xanh xanh” màu đất nước Việt Nam, hàng tre sống trong mọi không gian, thời gian: “Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng”. Cây tre từ lâu đã trở thành biểu tượng cho sức sống bền bỉ, kiên cường của dân tộc. Trong cái nhìn xúc động của nhà thơ, hàng tre vừa thực, vừa ảo, lung linh trong tâm tưởng. Hàng tre ấy cũng là hình ảnh cây cối mang màu đất nước tụ về đây giữ giấc ngủ bình yên cho Người. Hàng tre như những chiến sĩ đang canh giấc cho Bác. Đó cũng là hình ảnh của dân tộc kiên cường, bất khuất, gắn bó, trung thành bên Bác. Hình ảnh hàng tre như khúc dạo đầu đã nói lên bao xúc động, bồi bồi của nhà thơ khi đến bên lăng Người.

Phân tích khổ đầu bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương- Mẫu 2

Đề tài về Bác Hồ luôn là một trong những đề tài được sử dụng nhiều trong thơ ca Việt Nam. Bác luôn là một nguồn cảm hứng to lớn giúp các nhà thơ có thể thể hiện bộc lộ hết tài năng sáng tác của mình. Có thể nói Bác Hồ là hình ảnh trong sáng và đẹp đẽ nhất trong thơ ca Việt Nam. Nhiều tác phẩm viết về Người, về những lần đến thăm và gặp gỡ Người, nhưng có lẽ cảm động nhất là tác phẩm “Viếng lăng Bác” của nhà thơ Viễn Phương. Bài thơ nói về tình cảm của một người con ở miền Nam xa xôi trở về thăm Bác sau khi Bác mất.

Viễn Phương là một nhà thơ được chú ý rất nhiều và thường xuyên xuất hiện trên văn đàn cách mạng Nam Bộ từ những ngày còn kháng chiến. Trong các tác phẩm của ông có lẽ tác phẩm “Viếng lăng Bác” là tác phẩm thành công nhất khi viết về Bác Hồ. Cả bài thơ chất chứa nỗi buồn và tình cảm chân thành đối với người cha già dân tộc của người con xa xứ trở về. Mở đầu bài thơ, tác giả kính chào Bác Hồ kính yêu:

“Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác
Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng”.

Không giống như những nhà thơ khác sử dụng những lời chúc hoa mỹ để miêu tả một cuộc viếng thăm, Viễn Phương dùng lời giới thiệu mang đầy sự chân thành nhất của mình gửi gắm vào từng câu thơ. Tác giả sống ở phương Nam xa xôi, mãi đến hôm nay sau khi nước nhà giành độc lập mới được vào thăm vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc. Hai chữ “miền Nam” như để nhấn mạnh sự xa cách về khoảng cách địa lý giữa hai đầu đất nước.

Và cuộc viếng thăm của nhà thơ như một niềm mong ước bấy lâu nay được vào lăng Bác. Bác mất năm 1969, nhưng mãi đến năm 1976, Viễn Phương mới về miền Bắc thăm Bác. Nói là viếng nhưng thực ra là viếng lăng Bác vì Bác đã mất từ lâu.

Nhưng ở đây, rõ ràng nhà thơ không dùng từ “viếng” như mục đích thực sự của chuyến đi này, mà dùng từ “thăm”. Vì tác giả cũng như những người con Nam Bộ khác vào đây thăm quê, thăm lại người Cha già của mình. Cũng bởi, miền Nam là một phần máu thịt của Việt Nam, là một phần “quê hương” mà Bác luôn đau đáu về thăm mà chưa có dịp:

“Bác thương miền Nam nỗi thương nhà
Miền Nam mong Bác nỗi mong cha” (Tố Hữu)

Nghệ thuật nói giảm nói tránh được nhà thơ sử dụng ở đây được ví như một cách để xoa dịu nỗi đau da diết đang trào dâng trong lòng của tác giả. Bao nhiêu cảm xúc đau xót tràn về trong lòng như những con sóng vỗ mạnh vào bờ, nhưng ấn tượng đầu tiên đọng lại trong lòng tác giả là “hàng tre”. Ẩn hiện trong làn sương sớm long lanh bao quanh lăng Bác là những hàng tre xanh. Cây tre từ lâu đã trở thành biểu tượng của dân tộc ta và tinh thần bất khuất của ông cha ta. Từ thời Thánh Gióng cầm tre đuổi giặc, đến lúc chịu gai góc cản giặc. Cây tre cứ thế đi vào đời sống tinh thần của người Việt Nam. Hàng tre trước mắt Viễn Phương hiện ra “nhan nhản”. Không còn từ nào khác là “xót xa” khiến người đọc như cảm nhận được sự hùng vĩ, bao la, rộng lớn của những hàng tre bao quanh lăng Bác. Ấn tượng ấy của nhà thơ bỗng biến thành một câu cảm thán.

“Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng”.

Nhìn những hàng tre quanh lăng Bác, nhà thơ chợt cảm thấy những hàng tre ấy như ý chí của dân tộc Việt Nam bao năm qua luôn bất khuất, kiên cường và kiêu hãnh. Dù trải qua “giông bão” nhưng họ vẫn một lòng sát cánh bên nhau. Từ “xanh” được dùng ở đây như một cách diễn đạt, muốn nói rằng dân tộc Việt Nam, dân tộc Việt Nam mãi mãi “xanh”, mãi mãi xanh tươi. “Xanh xanh” có nghĩa là luôn luôn giống nhau, luôn luôn có cùng một màu xanh. Thế hệ tương lai luôn mạnh mẽ để bảo vệ đất nước.

Như vậy, cả khổ thơ đầu chứa đựng những cảm xúc đầu tiên của tác giả khi lần đầu tiên vào thăm lăng Bác. Trong khổ thơ đó là sự tiếc thương trước sự mất mát của Bác nhưng ẩn chứa trong đó là niềm tự hào dân tộc.

Phân tích khổ đầu bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương- Mẫu 3

Mỗi tác giả đều có những cảm xúc riêng khi viết về Hồ Chí Minh như ngậm ngùi, tiếc nuối, tự hào, cảm phục về một đời người vì dân, vì nước. Nhà thơ Viễn Phương lần đầu tiên vào thăm lăng Bác cũng giật mình nhận ra những thay đổi trong cảm xúc của chính mình khi nhìn Bác nằm ngủ yên bình. Bài thơ “Viếng lăng Bác” là sự kính trọng, ngưỡng mộ và biết ơn của nhà thơ đối với vị lãnh tụ vĩ đại.

Năm 1976, đất nước thống nhất, lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được khánh thành; Tác giả theo đoàn đại biểu miền Nam vào viếng lăng Bác. Cảm xúc của người con lần đầu tiên vào thăm lăng Bác thực sự dồn nén trong lòng tác giả. Bài thơ như một lời tri ân, kính trọng của người con phương xa trở về thăm cha. Có lẽ những câu thơ ấy đã nói hộ nỗi lòng của nhiều người, nhiều người dân Việt Nam được vào lăng Bác.

Khổ thơ đầu là cảm xúc của nhà thơ khi đến lăng Bác, đứng trước không gian và cảnh vật bên ngoài lăng.

Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác
Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
Ôi hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng

Câu thơ đầu “Con vào Nam viếng lăng Bác” như một lời thông báo giản dị mà chất chứa nhiều tình cảm. Tác giả gọi “con trai”, gọi “chú” để thể hiện tình cảm thân thiết, kính trọng. Đây là cách xưng hô Bác Hồ thông thường nhưng với Viễn Phương vẫn mang sắc thái tình cảm riêng, bởi ông là người con của miền Nam, miền Nam chiến đấu anh dũng, miền Nam trong trái tim Bác Hồ. Nhà thơ không nói “viếng” mà nói “thăm”, như người con về thăm cha, thăm nơi Bác Hồ yên nghỉ. Nỗi đau dường như muốn giấu đi nhưng giọng thơ vẫn có gì đó kìm nén.

Hình ảnh đầu tiên và cũng là ấn tượng mạnh đối với tác giả của bài Tả cảnh bên lăng Bác là hình ảnh hàng tre. Dường như lo lắng và hồi hộp, nhà thơ đã đến lăng từ rất sớm, từ “trong sương”, và tại đây nhà thơ đã bắt gặp một hình ảnh rất thân thương của quê hương Việt Nam: cây tre. Lăng Bác như trong lũy tre, giữa lũy tre. Hàng tre “bé” chạy quanh lăng, màu “xanh” của đất nước Việt Nam, hàng tre sống trong mọi không gian và thời gian: “Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng”. Từ lâu, cây tre đã trở thành biểu tượng cho sức sống bền bỉ, kiên cường của dân tộc. Trong cái nhìn đầy cảm xúc của nhà thơ, hàng tre vừa thực vừa ảo, lung linh trong tâm tưởng. Hàng tre ấy cũng chính là hình ảnh của những hàng cây mang màu sắc của đất nước tụ hội về đây để ru giấc ngủ của Bác. Hàng tre như những người lính đang ru giấc ngủ cho Bác. Đó cũng là hình ảnh của một dân tộc kiên cường, bất khuất, gắn bó và trung thành với Bác Hồ. Hình ảnh hàng tre như mở đầu cho thấy cảm xúc của nhà thơ khi đến với lăng.

Như vậy, với khổ thơ mở đầu bài thơ Viễn Phương đã đưa người đọc đến ấn tượng đầu tiên khi bước vào lăng Bác: hình ảnh hàng tre. Ai chưa từng vào thăm lăng Bác mới có thể cảm nhận được hàng tre ấy qua tình cảm gần gũi của nhà thơ. Qua đó thể hiện niềm tự hào về những người con của dân tộc Việt Nam.

Phân tích khổ đầu bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương- Mẫu 4

Bài thơ “Viếng lăng Bác” của tác giả Viễn Phương là bài thơ xúc động, làm nổi bật dòng tâm trạng của tác giả khi đến thăm lăng Bác. Ở khổ thơ đầu tiên, đó là cảm xúc của tác giả khi đứng trước lăng.

Trong câu thơ đầu tiên, tác giả đã giới thiệu mình ở “miền Nam” xa xôi ra thăm Bác. Câu thơ giản dị nhưng lại khiến ta có cảm giác bùi ngùi, xúc động. Sau 30 năm bị chiến tranh chia cắt, giờ đây Bác và người dân miền Nam cũng đã được gặp nhau. Thế nên Viễn Phương sử dụng động từ “thăm” chứ không phải từ “viếng”. Tác giả như muốn làm vơi bớt đi sự thật đau thương rằng Bác đã ra đi mãi mãi. Ngoài ra, việc sử dụng cặp đại từ nhân xưng “con – Bác” đã cho người đọc cảm giác ấm áp, thân thiết như những người thân trong gia đình đến thăm hỏi nhau.

Ấn tượng đầu tiên của người con trên đường đi vào lăng được thể hiện ở câu thơ thứ hai về hình ảnh “hàng tre”. Đó là bóng tre quen thuộc của làng quê Việt Nam mà chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp. Hàng tre mang ý nghĩa ẩn dụ tượng trưng cho sức sống bền bỉ, mãnh liệt và phẩm chất của con người Việt Nam trong chiến đấu. Tre vẫn luôn đứng thành hàng dù cho có gặp mưa bão, cũng như dân tộc Việt Nam vẫn luôn đoàn kết để vượt qua mọi phong ba. Dường như qua đây, tác giả bộc lộ niềm xúc động, tự hào đối với cả dân tộc. Câu đặc biệt “Ôi” thể hiện cảm xúc ngỡ ngàng, tự hào của nhà thơ về sắc màu xanh tươi của dân tộc.

Chỉ bằng bốn câu thơ đầu ngắn gọn, súc tích, Viễn Phương đã cho người đọc thấy được cảm xúc của mình khi đứng trước lăng Bác. Qua đây, chúng ta phần nào cảm nhận được tấm lòng yêu thương vô hạn của nhà thơ dành cho Người cha đáng kính.

Phân tích khổ đầu bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương- Mẫu 5

Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành tình yêu thương đặc biệt đối với đồng bào đồng chí miền Nam. Đồng bào miền Nam cũng từng ngày từng giờ nhớ thương mong ngóng Bác. Thế nhưng ngày 2/9/1969 Bác đã vĩnh viễn đi xa để lại cho đồng bào cả nước đặc biệt là đồng bào miền Nam một nỗi đau dài vô hạn. Năm 1976 Viễn Phương bùi ngùi cùng với đoàn đại biểu từ miền Nam ra thăm lăng Bác. Tình cả dồn nén xúc động khiến nhà thơ cho ra đời bài thơ Viếng lăng Bác. Bài thơ mở đầu đầy ấn tượng:

Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác
Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng

Bài thơ là cảm xúc trữ tình, lòng tiếc thương vô hạn của cả dân tộc đối với Bác. Bài thơ được coi là cuộc hành hương của Viễn Phương sau bao năm chờ đợi được trở về bên người cha già kính yêu. Bài thơ mở đầu đã để ấn tượng đậm nét về hình ảnh hàng tre trước lăng Bác.

Cách vào đề thật gần gũi giản dị, nhà thơ đã khéo léo giới thiệu được vị trí không gian quãng đường từ miền Nam xa xôi ra viếng lăng Bác:

Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác

Tiếng “con” mở đầu bài thơ cất lên thật gần gũi, thân thương. Đó là cách xưng hô rất mật thiết của người dân Nam Bộ, đã bộc lộ sâu sắc lòng ngậm ngùi thương nhớ của nhà thơ của đồng bào miền Nam đối với Bác. Nỗi nhớ ấy kết tụ lắng đọng trong câu thơ: “miền Nam mong Bác nỗi mong cha”.

Ấn tượng đậm nét đầu tiên của nhà thơ khi đứng trước lăng Bác là hình ảnh hàng tre:

Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
Ôi! hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng

Hiện lên trong sương khói quảng trường Ba Đình lịch sử là hình ảnh hàng tre xanh bát ngát. Hàng loạt các từ láy miêu tả dáng đứng vững vàng của hàng tre trong mưa sa bão táp. Ai đã từng một lần vào viếng lăng Bác đều thấy nơi đây hội tụ hàng trăm loài cây cỏ quý giá cùng biết bao viên đá hoa cương cẩm thạch. Nhưng tác giả lại bị cuốn hút hơn bởi hình ảnh hàng tre. Tre bao đời này đã trở thành biểu tượng của con người Việt Nam, hàng tre bao trùm bóng mát rượi, lên bao thế hệ cuộc đời, tre có mặt xung quanh trong cuộc sống của người dân, tre tham gia vào cuộc kháng chiến cùng người dân “tre xung phong vào xe tăng đại bác, tre giữ làng giữ nước giữ mái nhà tranh giữa đồng lúa chín” (Thép Mới). Tre mang bao phẩm chất của con người Việt Nam: mộc mạc, thanh cao, ngay thẳng bất khuất. Dấu hiệu hàng tre đầu tiên ở nơi Bác cũng là dấu hiệu của dân tộc Việt Nam. Bởi Bác cũng chính là biểu hiện Việt Nam, tiêu biểu cho con người Việt Nam hơn bao giờ hết. Ở Bác có tất cả những gì con người Việt Nam từng có, cũng có dấu hiệu xanh tươi sự sống ấy, cũng có cái kiên cường “đứng thẳng hàng trong bão táp mưa sa”.

Hàng tre xanh ấy được trồng xung quanh lăng Bác như muốn thay cả dân tộc Việt Nam canh giấc ngủ ngàn thu cho Người, thổi làn gió mát vào lăng, đưa những khúc nhạc du dương vào giấc ngủ của Người. Để Người tin tưởng vào sức mạnh của dân tộc nhất định giải phóng miền Nam. Và hôm nay những người con miền Nam ruột thịt đã ra thăm Người – vị cha già kính yêu của dân tộc.

Từ “Ôi” là từ cảm thán đứng ở đầu câu, đã biểu hiện xúc động pha lẫn niềm tự hào khôn xiết của tác giả. Niềm tự hào về con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam đầy vĩ đại lớn lao. Về Người cha đã làm nên lịch sử của dân tộc.

Như vậy, với khổ thơ mở đầu bài thơ Viễn Phương đã đưa người đọc đến với những ấn tượng đầu tiên khi vào lăng Bác: đó là hình ảnh hàng tre. Ai chưa từng đến thăm lăng Bác cũng cảm nhận được hàng tre ấy qua những dòng thơ đầy xúc cảm gần gũi của nhà thơ. Thông qua đó bộc lộ niềm tự hào về người con của dân tộc Việt Nam.

Phân tích khổ đầu bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương- Mẫu 6

Khi nhắc đến hai tiếng Bác Hồ, mỗi người dân Việt Nam chúng ta luôn cảm thấy thân thương và gần gũi hơn bao giờ hết. Vẻ đẹp của một vị lãnh tụ hết lòng vì dân vì nước, một trái tim tràn ngập yêu thương và bản lĩnh phi thường ấy đã trở thành cảm hứng để các nhà thơ sáng tạo nên những tác phẩm song hành cùng thời gian. Viếng lăng Bác của Viễn Phương là bài thơ như thế, đặc biệt khổ thơ đầu của văn bản đã để lại trong lòng người đọc nhiều suy nghĩ và liên tưởng sâu xa:

Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác
Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa sa, đứng thẳng hàng.

Viếng lăng Bác được sáng tác vào năm 1976, khi công trình lăng Bác vừa được khánh thành. Lần đầu tiên từ miền Nam hòa vào dòng người vào lăng viếng Bác, Viễn Phương chất chứa cảm xúc vừa trân trọng, vừa xúc động nghẹn ngào. Đặc biệt, khổ thơ đầu tiên khái quát cảm xúc của tác giả khi đứng trước lăng Bác.

Câu thơ đầu như lời thông báo mộc mạc mà chất chứa biết bao cảm xúc thân thương của người con ở miền Nam lần đầu được vào lăng viếng Bác: ” Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác”. Chữ “con” cất lên sao mà ngọt ngào, ấm áp nhưng cũng không vơi bớt lòng thành kính, trân trọng đến thế. Khoảng cách về không gian địa lý được thu hẹp và khoảng cách giữa lãnh tụ và nhân dân cũng trở nên thân mật như tình cha con một nhà. Nghệ thuật nói giảm nói tránh được Viễn Phương sử dụng rất khéo léo, tác giả không dùng chữ “viếng” mà lại sử dụng từ “thăm” để giảm nhẹ nỗi đau thương mất mát, đồng thời cũng gợi sự gần gũi, gắn bó giữa Bác với “con”. Bác dường như vẫn còn sống mãi trong muôn triệu trái tim, khối óc của người con đất Việt. Câu thơ đã khái quát được hoàn cảnh và cảm xúc của tác giả, đó cũng là cảm xúc của tất cả người dân Việt Nam dành cho Bác – vị cha già của dân tộc.

Đứng trước lăng Bác, hình ảnh đầu tiên để lại ấn tượng sâu đậm với tác giả đó chính là hàng tre bát ngát:

“Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
Ôi hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng”.

Có phải ngẫu nhiên không mà trước bao nhiêu loài cây, loài hoa rực rỡ sắc màu trước lăng Bác, Viễn Phương lại chỉ ấn tượng với cây tre giản dị? Câu trả lời là không, bởi cây tre là hình ảnh thân thuộc gắn với làng quê đất Việt, nó vừa gợi lên sự trang nghiêm nhưng cũng không kém phần gần gũi. Thế nhưng, không chỉ dừng lại ở nghĩa tả thực, cây tre còn mang ý nghĩa biểu tượng sâu xa. Ẩn dụ “hàng tre xanh xanh Việt Nam” để chỉ con người, dân tộc Việt Nam kết hợp với thành ngữ “bão táp mưa sa” và nghệ thuật nhân hóa “đứng thẳng hàng” biểu tượng cho vẻ đẹp thanh cao, ý chí bất khuất kiên cường của mỗi công dân nước Việt. Dù trải qua bao thăng trầm chống giặc ngoại xâm nhưng nhân dân ta vẫn chung một ý chí quyết tâm chiến thắng, giành lại độc lập cho dân tộc. Hàng tre ấy còn như một đội quân anh dũng đứng canh bảo vệ giấc ngủ của Bác. Thán từ “ôi” ở đầu câu thơ đã trở thành phương tiện chuyển tải cảm xúc xúc động của người con miền Nam xa xôi ra thăm người.

Chỉ với bốn câu thơ ngắn ngủi, người đọc đã hình dung được cảm xúc của nhà thơ khi đứng trước lăng Bác. Đó cũng là cảm xúc của nhân dân ta khi đứng trước lăng Bác, đứng trước người cha già vĩ đại của dân tộc Việt Nam.

Viếng Lăng Bác là một trong số những bài thơ nổi bật của nhà thơ Viễn Phương trong ngữ văn lớp 9, bên cạnh bài làm văn Phân tích khổ đầu bài thơ Viếng lăng Bác, học sinh, giáo viên thường làm các bài văn như Phân tích khổ cuối bài thơ Viếng lăng Bác, Những nét đặc sắc trong bài thơ Viếng lăng Bác, Cảm nhận về bài thơ Viếng lăng Bác, Suy nghĩ của em về bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương, hay bài Lập dàn ý phân tích bài thơ Viếng lăng Bác hay cả phần Soạn bài Viếng lăng Bác.

Lăng Bác là địa điểm mà hàng triệu học sinh, người dân trên cả nước Việt Nam muốn tới thăm quan và vào viếng Bác Hồ, vị lãnh tụ vĩ đại, tuy nhiên, để không phải quay về vì không biết lịch viếng Lăng Bác, nên mọi người cần nắm rõ thông tin về lịch viếng và giờ mở cửa Lăng Bác nhé.

Phân tích khổ đầu bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương- Mẫu 7

Năm 1969 Hồ chủ tịch, vị lãnh tụ kính yêu của cả dân tộc ta đã ra đi mãi mãi, nhân dân ta đau xót khóc thương người, nhà thơ Tố Hữu đã từng viết:

“Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa
Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa”

Nỗi đau ấy sau 7 năm sau vẫn còn nguyên còn nguyên vẹn trong những vần thơ của nhà thơ Viễn Phương. Bài thơ là tiếng khóc than đau xót, tiếc nuối của người con miền Nam sau một lần ra thăm lăng Bác năm 1976 khi cuộc kháng chiến chống Mỹ giành được thắng lợi, lăng Bác vừa hoàn thành, Viễn Phương ra thăm miền Bắc và vào viếng lăng Bác, nhà thơ xúc động bồi hồi, từ những tình cảm đó đã sáng tác nên bài thơ này, tất cả cảm xúc có được chất chứa và tuôn trào.

Bài thơ được phát triển theo trình tự thời gian từ khi tác giả đến cho tới khi tác giả phải xa Bác. Mở đầu bài thơ là cảm xúc của tác giả vừa ngỡ ngàng vừa xúc động trước cảnh vật bên ngoài lăng:

“Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác
Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa sa, đứng thẳng hàng.”

Câu thơ mở đầu như một lời thông báo. Ở câu thơ này tác giả đã tự xưng hô mình là “con” và “Bác”, đây là cách xưng hô thân thiết, gần gũi. Trên thực tế thì kiểu xưng hô của Viễn Phương không hề mới, trước ông thì đã có nhiều nhà thơ viết về Bác cũng có cách xưng hô như vậy, nhưng có lẽ chính khác biệt ở đây là con ở miền Nam, hai chữ “miền Nam” nó gợi ra khoảng cách rất xa xôi giữa miền Nam và miền Bắc, đồng thời cũng gợi lên mối quan hệ thân thiết, gắn bó giữa Bác Hồ và nhân dân miền Nam. Bởi thế mà nhà thơ Tố Hữu đã từng viết:

“Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà
Miền Nam mong Bác nỗi mong cha”

Với quan hệ thân thiết như thế, với cảm xúc mãnh liệt vì xa cách như vậy thì nhà thơ đã tới viếng lăng Bác. Nhà thơ đã sử dụng phép nói giảm, nói tránh đến viếng lăng nhưng ông lại dùng là “thăm”để cố kìm nén nỗi đau trong lòng.

Câu thơ giản dị đã bộc lộ được cảm xúc mãnh liệt của người con miền Nam xa sau bao nhiêu năm mong mỏi mà bây giờ mới được ra thăm lăng Bác. Với nỗi xúc động ấy thì hình ảnh đầu tiên mà tác giả nhìn thấy đó là hàng tre:

“Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa sa, đứng thẳng hàng.”

Hình ảnh “hàng tre” vô cùng thân thuộc, bình dị ở mọi làng quê Việt Nam làm cho lăng Bác tự nhiên mà thật gần gũi, người ta không thấy ở đây những lăng tẩm xa hoa, tráng lệ như của vua chúa xưa mà lại giống như một ngôi nhà mà biết bao nhiêu ngôi nhà khác trên mọi miền quê của đất nước Việt Nam. Đó là hình tượng, biểu tượng của dân tộc, của sức sống bền bỉ và kiên cường, hàng tre hiên ngang trong bão táp mưa sa, tượng trưng cho sức sống và sức mạnh chiến đấu kiên cường, không khuất phục khó khăn của dân tộc ta. “Hàng tre” được miêu tả bằng các từ láy “bát ngát, xanh xanh”, hàng tre được trồng lớn lên một cách đầy đặn và tươi tốt, xanh tươi và thẳng tắp bên lăng Bác làm cho chúng ta tưởng tượng rằng như cả dân tộc Việt Nam đang sát cánh bên người cả những lúc người còn sống và ngay cả lúc người đã ra đi.

Nhìn thấy hàng tre thân thiết, tác giả đã không thể giấu được nỗi xúc động của mình, nó thể hiện rõ qua thán từ “ôi” bộc lộ được tình cảm và cảm xúc của tác giả trước cảnh vật nơi đây, nó là niềm thổn thức của nhà thơ bỗng được trào dâng một cách mãnh liệt.

Tác giả ra viếng lăng Bác mà như trở về quê nhà thăm người cha kính yêu sau bao năm xa cách của mình vậy. từ nỗi xúc động về cảnh vật ngoài lăng thì nhà thơ đã hòa vào lòng người để tiến vào lăng Bác.

Con vừa ở miền Nam, vừa ở chiến trường ra thăm lăng Bác, tác giả không dùng từ “viếng” mà lại dùng từ “thăm” bởi vì từ “viếng Bác” thì người ta tới viếng những người đã mất, còn ở đây trong lòng tác giả cũng như trong lòng người dân Việt, Bác vẫn trường tồn và vĩnh cửu, dù bao gian khổ con người, đất nước này đều đã trải qua nhưng vẫn đứng thẳng hàng, vẫn luôn bên Bác.

Cả khổ thơ là niềm xúc động, bồi hồi của tác giả sau 7 năm trời, 7 năm ấy là 7 năm gian lao, khó khăn của đất nước, bom không ngừng rơi, người Việt không ngừng ngã xuống nhưng người dân Việt Nam không bao giờ bị khuất phục, vẫn đứng hiên ngang, thẳng hàng, cùng với Bác đấu tranh và gìn giữ quê hương này.

Phân tích khổ đầu bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương- Mẫu 8

Viễn Phương là một trong những cây bút có mặt sớm nhất của lực lượng văn nghệ giải phóng ở miền Nam thời chống Mỹ cứu nước. Thơ ông giàu cảm xúc, sâu lắng, thiết tha. Bài thơ “ Viếng lăng Bác” được nhà thơ sáng tác năm 1976, đã cho thấy niềm xúc động thiêng liêng thành kính, đau xót xen lẫn lòng tự hào của tác giả khi lần đầu ra thăm lăng Bác. Hai khổ thơ đầu bài thơ là tiếng lòng của Viễn Phương khi đứng trước cảnh vật ngoài lăng.

Bài thơ Viếng lăng Bác được viết vào tháng 4 năm 1976 khi đất nước vừa thống nhất được một năm, lăng Bác vừa khánh thành, nhà thơ Viễn Phương vinh dự có mặt trong đoàn cán bộ chiến sĩ miền Nam ra Bắc viếng Bác. Xúc động, nghẹn ngào, hạnh phúc trào dâng, ông đã viết bài thơ trong những giây phút lịch sử đó.

Mở đầu bài thơ là lời chào, lời gửi thưa:

Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác

Lời thơ ngắn gọn, giản dị không hoa mĩ, câu thơ như một lời chào, một lời gửi thưa thành kính. Địa danh “miền Nam” cũng thật giàu sức gợi. Nó không chỉ xác định vị trí địa lí rất xa xôi mà còn có ý nghĩa lịch sử. Trong tim Bác, miền Nam luôn là nỗi đau chia cắt, là biểu tượng anh hùng, là thành đồng Tổ quốc… Trong tâm trạng của người con miền Nam “mong Bác nỗi mong cha”. Đó là niềm mong ước không chỉ của riêng nhà thơ mà còn của biết bao người con miền Nam muốn được gặp Bác, muốn được ở bên Bác. Niềm mong ước ấy giống như cây tìm về cội, sông trở về nguồn, như máu chảy về tim. Đó là tình cảm chân thành, tha thiết của nhà thơ đối với vị cha già dân tộc.

Nhà thơ xưng “con” – “Bác”,“con” – cách xưng hô thật gần gũi, thân thiết, ấm áp thân thương mà vẫn rất mực thành kính thiêng liêng. Trong sâu thẳm lòng mình Viễn Phương coi Bác là người cha nhân hậu, hiền từ như nhà thơ Tỗ Hữu đã từng bộc bạch:

Bác Hồ là vị cha chung
Là sao bắc đẩu là vầng thái dương.

Nhà thơ sử dụng từ “thăm” thay cho từ “viếng”. “Viếng” là đến chia buồn với người thân đã mất, “thăm” là gặp gỡ, trò chuyện với người đang còn sống. Nhan đề dùng từ “viếng” theo đúng nghĩa đen, trang trọng khẳng định sự thật Bác đã qua đời. “Thăm” trong câu thơ ngụ ý nói giảm, nói tránh, giảm nhẹ nỗi đau thương mất mát, khẳng định Bác vẫn còn sống mãi trong trái tim nhân dân miền Nam, dân tộc Việt Nam. Đồng thời gợi sự thân mật, gần gũi: Con về thăm cha – thăm người thân ruột thịt, thăm chỗ Bác nằm, thăm nơi Bác ở để thỏa lòng khát khao, mong nhớ bấy lâu. Câu thơ giản dị, mộc mạc nhưng lại vô cùng gợi cảm, dồn nén biết bao cảm xúc.

Cái hay của khổ thơ không chỉ ở từ ngữ bình dị mà còn hay ở hình ảnh “hàng tre xanh bát ngát”
Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát.

Nhà thơ phải đến xếp hàng từ rất sớm mới thấy trong lung linh sương sớm bát ngát hàng tre. “bát ngát” – từ láy biểu cảm gợi không gian rộng lớn, xanh mát. Câu thơ tả thực “tre” là hình ảnh thân thuộc mà bao năm in vào tâm hồn người dân Việt Nam. Gặp lại hàng tre nhà thơ liên tưởng Bác đang sống gần gũi thân thuộc với làng quê. Hàng tre ấy như bao bọc, ôm lấy hình bóng của Người – vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam. Sự xuất hiện của hàng tre khiến nhà thơ phải thốt lên:

Ôi! Hàng tre xanh xanh Viêt Nam.

Thán từ “ôi” tách ra thành câu đặc biệt vừa biểu lộ sự ngạc nhiên, vừa diễn tả nỗi xúc động. “Hàng tre xanh xanh Việt Nam” là hình ảnh ẩn dụ biểu tượng cho con người, dân tộc Việt Nam anh dũng, kiên cường.

Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng.

“Bão táp mưa sa” là thành ngữ, chỉ những khó khăn, gian khổ. Còn tư thế “đứng thẳng hàng” là ẩn dụ chỉ sức mạnh tinh thần, ý chí, bản lĩnh kiên cường, bất khuất. Một dân tộc dù nhỏ bé nhưng không chịu khuất phục tước kẻ thù, không chịu đầu hàng trước thiên tai bão lũ dù trong khó khăn gian khổ, trong bão táp mưa sa vẫn giữ vững một tấm lòng thủy chung son sắt. Tới đây, tình cha con ruột thịt đã được mở rộng, nâng lên hòa quyện trong tình quần chúng – lãnh tụ cao quý và thiêng liêng.

Như vậy, bằng các biện pháp tu từ ẩn dụ, nói giảm nói tránh, các từ ngữ và hình ảnh chọn lọc, khổ thơ đầu đã diễn tả được một cách sâu sắc nỗi niềm xúc động, nghẹn ngào của nhà thơ khi lần đầu tiên được ra lăng viếng Bác.

Năm tháng cứ đi qua nhưng vẫn vẹn nguyên trong lòng mỗi người niềm xúc động khôn nguôi khi lắng nghe những vần thơ trong “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương. Mênh mang với nhiều cung bậc cảm xúc, Viễn Phương đã thực sự khơi dậy trong lòng người đọc những tình cảm đẹp, để nghiêng mình kính cần trước sự vĩ đại, cao đẹp của Bác mà lớn lên vế tâm hồn, nhân cách:

Ta bên Người, Người tỏa sáng bên ta
Ta bỗng lớn ở bên Người một chút
(Tố Hữu)

Kết luận

Hy vọng với các giải đáp trên thì mong là quý độc giả đã biết được cách “Phân tích khổ đầu bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương” chuẩn và chính xác nhất hiện nay. Các thông tin trên được admin cập nhật cũng như thu thập thông tin từ nhiều nguồn chuẩn xác, hy vọng các bạn sẽ thích và ủng hộ cho Chamhocbai.com.

Bài viết đã được cập nhật mới nhất vào 06/2024!