Updated at: 20-03-2023 - By: Thầy Vũ Xuân Anh

Admin Chăm Học Bài hôm nay sẽ hướng dẫn các bạn cách “soạn bài kiểm tra văn học lớp 10” chuẩn nhất 02/2024.

Bài mẫu số 1: soạn bài kiểm tra văn học lớp 10

Đề 1

1. Anh (chị) hiểu thế nào là thể truyền kì qua một số tác phẩm đã học?

2. Viết một bài văn ngắn (nhiều nhất là hai trang giấy) phân tích cách lập luận của Nguyễn Trãi về tư tưởng đại nghĩa trong tác p

hẩm Đại cáo bình Ngô.

Đề 2

1. Anh (chị) hiểu thế nào là văn biền ngẫu? Hãy phân tích một ví dụ trong các tác phẩm đã học để làm sáng tỏ.

2. Sau khi học bài Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu, anh (chị) có suy nghĩ gì (viết khoảng một trang giấy)?

Đề 3

1. Hãy trình bày vắn tắt cuộc đời và sự nghiệp văn học của Nguyễn Trãi (trong một trang giấy).

2. Viết một đoạn văn ngắn so sánh tính cách của nhân vật Trương Phi và Quan Vũ qua Hồi trống Cổ Thành (trích Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung).

Đề 4

1. Từ bài Tựa “Trích diễm thi tập” của Hoàng Đức Lương, anh (chị) hiểu thế nào là một bài tựa.

2. Tư thế và trách nhiệm của nhà bình sử Lê Văn Hưu được biểu hiện như thế nào qua các đoạn trích Phẩm bình nhân vật lịch sử?

Lời giải chi tiết

Bài kiểm tra này tập trung vào những kiến thức và kĩ năng đọc – hiểu các văn bản, tác phẩm đã học trong phần Đọc văn. Ở mỗi đề, câu 1 chủ yếu kiểm tra về việc nắm bắt các Tri thức đọc – hiểu. Để có thể thực hiện yêu cầu của dạng câu hỏi này, cần ôn lại các mục Tri thức đọc – hiểu về thể loại, văn học sử hoặc lí luận văn học gắn với mỗi bài Đọc văn. Câu 2 ở các đề thường đưa ra yêu cầu viết một bài hoặc một đoạn văn về một khía cạnh nội dung hay nghệ thuật của tác phẩm nào đó. Để thực hiện được yêu cầu ở dạng này, một mặt cần nắm vững những kiến thức về tác phẩm cụ thể, gắn với vấn đề nghị luận; mặt khác, phải biết vận dụng các thao tác nghị luận cũng như kĩ năng tạo lập văn bản.

Dưới đây là những hướng dẫn có tính chất gợi ý, định hướng cách giải quyết các đề bài cụ thể.

1. Đề 1

Câu 1. Anh (chị) hiểu thế nào là thể truyền kì qua một số tác phẩm đã học?

   Gợi ý:

– Truyền kì là thể loại truyện ngắn có nguồn gốc từ Trung Hoa, dùng yếu tố kì ảo làm phương thức nghệ thuật để phản ánh cuộc sống. Ở Việt Nam thời trung đại, thể loại này rất được ­ưa chuộng. Truyện truyền kì Việt Nam thường sử dụng truyện dân gian hoặc các mô típ truyện dân gian để xây dựng thành truyện mới. Truyện truyền kì Việt Nam mang đậm chất yếu tố hiện thực và chất nhân văn.

– Có thể làm rõ hơn các đặc điểm về yếu tố kì ảoyếu tố hiện thực và chất nhân văn của thể loại truyền kì bằng cách chỉ ra thật ngắn gọn những biểu hiện nổi bật ở tác phẩm cụ thể (Chuyện chức phán sự ở đền Tản Viênchuyện người con gái nam xương…)

Câu 2. Viết một bài văn ngắn (nhiều nhất là hai trang giấy) phân tích cách lập luận của Nguyễn Trãi về tư tưởng đại nghĩa trong tác phẩm Đại cáo bình Ngô.

   Gợi ý: Cần phân tích để thấy được nghệ thuật lập luận sắc sảo, thuyết phục cao về tư tưởng đại nghĩa mà Nguyễn Trãi đã thể hiện trong bài cáo chứ không phải chỉ là phân tích về nội dung tư tưởng đại nghĩa.

Từ sự khẳng định lập trường đại nghĩa là vì nhân dân, đem lại cuộc sống yên ổn, hạnh phúc cho nhân dân (“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân – Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”); cho đến việc thể hiện tư tưởng đại nghĩa ở phương châm hành động, chiến lược chiến đấu: “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn – Lấy chí nhân để thay cường bạo”,  “Chẳng đánh mà người chịu khuất – Ta đây mư­u phạt tâm công”; rồi cuối cùng thể hiện tư tưởng đại nghĩa bằng chủ trương nhân đạo: “Thần vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh – Mã Kì, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền… Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa…”.

2. Đề 2

Câu 1. Anh (chị) hiểu thế nào là văn biền ngẫu? Hãy phân tích một ví dụ trong các tác phẩm đã học để làm sáng tỏ.

   Gợi ý:

– Giải thích khái niệm văn biền ngẫuVăn biền ngẫu còn gọi là “biền văn”, “biền lệ văn” (biền là ngựa đi sóng đôi; ngẫu là đôi, cặp). Văn biền ngẫu thường theo cấu trúc câu 4 chữ và 6 chữ. Văn biền ngẫu có năm đặc điểm:

+ Ngôn ngữ đối ngẫu: Các vế đối nhau theo bằng trắc, từ loại;

+ Kiểu câu chỉnh tề, câu 4 chữ đối với câu 4 chữ, câu 6 chữ đối với câu 6 chữ hoặc cặp câu 4/4 đối với cặp câu 6/6;

+ Có vần điệu, bằng trắc hài hoà;

+ Sử dụng điển cố;

+ Sử dụng từ ngữ bóng bẩy, có tính khoa trương.

– Phân tích ví dụ: Có thể thực hiện phân tích ví dụ ngay trong quá trình giải thích từng đặc điểm của văn biền ngẫu (nên làm theo cách này), hoặc trình bày các đặc điểm của văn biền ngẫu xong rồi phân tích ví dụ để làm sáng tỏ. Chú ý bám vào hai tác phẩm Phú sông Bạch Đằng và Đại cáo bình Ngô để làm rõ đặc điểm của văn biền ngẫu.

Câu 2. Sau khi học bài Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu, anh (chị) có suy nghĩ gì (viết khoảng một trang giấy)?

   Gợi ý:

Câu này có tính chất mở rất rõ, anh (chị) có thể tự do lựa chọn trình bày nội dung suy nghĩ của mình sau khi học tác phẩm: về vẻ đẹp của tác phẩm, về hình tượng con sông Bạch Đằng lịch sử, về mối liên hệ giữa “khách” và cái “tôi” của tác giả,… Trong khi thể hiện suy nghĩ của mình, chú ý bộc lộ những cảm nhận, đánh giá riêng gắn với những hình ảnh, chi tiết cụ thể của bài phú.

3. Đề 3

Câu 1. Hãy trình bày vắn tắt cuộc đời và sự nghiệp văn học của Nguyễn Trãi (trong một trang giấy).

   Gợi ý:

Cần trình bày theo các ý sau:

– Cuộc đời Nguyễn Trãi: Nguyễn Trãi là một anh hùng dân tộc, một danh nhân văn hoá lỗi lạc và cũng là người có số phận bi thương nhất trong lịch sử.

– Sự nghiệp văn học của Nguyễn Trãi:

+ Những tác phẩm chính;

+ Thơ văn thấm nhuần tư tưởng yêu nước thương dân, triết lí thế sự và tình yêu thiên nhiên;

+ Thơ văn Nguyễn Trãi là đỉnh cao chói lọi trong văn học dân tộc.

Câu 2. Viết một đoạn văn ngắn so sánh tính cách của nhân vật Trương Phi và Quan Vũ qua Hồi trống Cổ Thành (trích Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung).

   Gợi ý:

Trương Phi không chỉ là người nóng nảy, thô lỗ  mà còn là người tế nhị và cẩn trọng nữa. Tế nhị và thô lỗ là hai nét tính cách đối lập nhau, vậy mà lại thống nhất với nhau trong con người Trương Phi. Điều đó cũng giống như Quan Vũ vừa tự cao lại vừa khiêm nh­ường vậy. Cái tài của tác giả là đã tạo ra được tình huống cho cả hai nhân vật chính của tác phẩm đều bộc lộ sự thống nhất của những nét tính cách đối lập trong bản thân một nhân vật. Vì thế, đoạn trích có kịch tính và rất hấp dẫn đối với người đọc.

4. Đề 4

Câu 1. Từ bài Tựa “Trích diễm thi tập” của Hoàng Đức Lương, anh (chị) hiểu thế nào là một bài tựa.

   Gợi ý:

   Tựa là bài văn đặt ở đầu tác phẩm văn học hoặc sử học, địa lí, hội hoạ, âm nhạc,… nhằm giới thiệu mục đích, nội dung, quá trình hình thành và kết cấu của tác phẩm ấy. Bài tựa có thể do tác giả tự viết hoặc do một ai đó thích thú tác phẩm mà viết. Cuối bài tựa thường có phần lạc khoản: ghi rõ họ tên, chức t­ước của người viết và ngày tháng, địa điểm làm bài tựa. Bài tựa cũng thể hiện những quan điểm mang tính thời đại và của chủ quan người viết. Văn của thể tựa có tính chất thuyết minh, thường được kết hợp với nghị luận và tự sự, có khi mang sắc thái trữ tình.

Câu 2. Tư thế và trách nhiệm của nhà bình sử Lê Văn Hưu được biểu hiện như thế nào qua các đoạn trích Phẩm bình nhân vật lịch sử?

   Gợi ý:

Cái nhìn chân thực, xuất phát từ tinh thần dân tộc, lòng yêu n­ước, ý thức gìn giữ, trân trọng truyền thống được thể hiện qua các lời bình sử của Lê Văn H­ưu. Cũng trong những lời bàn về lịch sử ấy, chúng ta còn thấy một tấm lòng ngay thẳng, cương trực, một quan điểm lịch sử chân thực, có phê phán. Điều này thể hiện ở lời bàn của tác giả về việc ban thưởng. Khi quan niệm điềm lành không có nghĩa là đem những thứ quý giá để làm vừa lòng người trên, tác giả đã phê phán thẳng thắn những lề thói, tật xấu của con người trong xã hội mọi thời. Thuở xư­a là cung tiến, ngày nay là đút lót, hối lộ, nịnh nọt, thực ra chỉ khác nhau về cách gọi tên mà thôi. Bàn về lịch sử, như thế không chỉ có ích đối với việc nhìn nhận quá khứ mà còn có ích đối với cuộc sống hiện tại và cả với tương lai.

Bài mẫu số 2: soạn bài kiểm tra văn học lớp 10

1. Nhìn tổng quát, văn học dân gian và văn học viết có những điểm gì giống và khác nhau ? Vận dụng những kiến thức đã học ở lớp 10 để so sánh hai bộ phận văn học này trong tiến trình lịch sử vãn học Việt Nam.

Trả lời:

Có thể sử dụng các tiêu chí mang tính tổng quát như: Tác giả – Cách thức sáng tác và lưu truyền – Nội dung, cảm hứng – Ngôn ngữ nghệ thuật của bộ phận văn học dân gian, bộ phận văn học viết. Dựa vào các tiêu chí đó, nêu lên những điểm giống và khác nhau của hai bộ phận văn học này.

Nhìn tổng quát hai bộ phận văn học nói trên trong tiến trình lịch sử văn học nước ta, phần giống nhau gồm nhiều điểm trong nội dung – ngôn ngữ nghệ thuật; phần khác nhau gồm nhiều điểm về tác giả, cách thức sáng tác.

Từ gợi ý trên, hãy trả lời các ý cụ thể theo yêu cầu của câu hỏi. Có thể trình bày theo chiều ngang, ví dụ : Những điểm giống nhau của văn học dân gian và văn học viết; Những điểm khác nhau ; hoặc trình bày theo chiều dọc bằng cách kẻ bảng : Hai cột đứng (Văn học dân gian – Văn học viết). Hai cột nằm ngang (Giống nhau – Khác nhau).

Xen kẽ những nội dung so sánh, cần nêu dẫn chứng cụ thể, ngắn gọn.

2. Nêu ngắn gọn những đặc điểm lớn về nội dung và nghệ thuật của văn học trung đại Việt Nam.

Trả lời:

Xem lại bài Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX, Ngữ văn 10, tập một. Chú ý các trang 108 – 110. Từ đó nêu ngắn gọn theo 2 mục lớn, mỗi mục gồm một số ý nhỏ. Ví dụ :

a) Về nội dung : Văn học trung đại Việt Nam có các đặc điểm…

b) Về nghệ thuật: Văn học trung đại Việt Nam có các đặc điểm…

3. Nhiều người cho rằng thơ văn Nguyễn Trãi tiêu biểu cho giai đoạn văn học nước ta từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XVII, còn những tác phẩm của Nguyễn Du tiêu biểu cho thơ văn giai đoạn từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX. Ý kiến của anh (chị) thế nào ? Hãy phân tích và chứng minh.

Trả lời:

Xem xét nội dung, nghệ thuật bao trùm, ta có thể đồng tình với ý kiến cho rằng : Thơ văn Nguyễn Trãi tiêu biểu cho giai đoạn văn học nước ta từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XVII – Những tác phẩm của Nguyễn Du tiêu biểu cho thơ văn giai đoạn từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX. Phân tích và chứng minh :

a) Những giá trị lớn, có ý nghĩa bao trùm thơ văn nước ta giai đoạn thế kỉ X – XVII là:

– Về nội dung… – Về ngôn ngữ nghệ thuật… Dẫn chứng…

– Thơ văn Nguyễn Trãi cũng chứa đựng những nội dung và ngôn ngữ nghệ thuật vừa bao trùm, vừa nâng cao chất lượng của cả giai đoạn… Dẫn chứng…

– Như vậy, có thể khẳng định thơ văn Nguyễn Trãi tiêu biểu cho giai đoạn văn học thế kỉ X-XVII.

b) Dựa vào cách phân tích và chứng minh trên, trả lời vế thứ hai của luận điểm : “Những tác phẩm của Nguyễn Du tiêu biểu cho thơ văn giai đoạn thế kỉ XVIII – nửa đầu XIX”.

4. Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật khác phong cách ngôn ngữ sinh hoạt ở những điểm nào, tại sao ? Dẫn chứng và phân tích ngắn gọn để từ đó rút ra bài học cụ thể trong cách nói, cách viết khi giao tiếp cũng như khi học văn, làm văn.

Trả lời:

Cần dựa vào hoàn cảnh, mục đích sử dụng của mỗi phong cách ngôn ngữ, từ đó xác định:

 a) Điểm khác nhau cơ bản của hai phong cách ngôn ngữ ấy là… Dẫn chứng…

b) Vận dụng vào thực tế:

– Khi giao tiếp hằng ngày bằng lời nói, bằng viết thư, trao đổi ý kiến…, ta cần chú ý dùng từ ngữ, câu nói, câu văn, thái độ, ngữ điệu…

– Khi phát biểu ý kiến trong bài học văn chương, hoặc viết bài làm văn phân tích, cảm nhận thơ văn, ta cần chú ý dùng từ, viết câu, dùng các biện pháp tu từ…

5. Hãy nêu và phân tích những nét đặc trưng của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt trong đoạn thơ sau:

                                                                  Ngơ ngác trông quanh, lạ mấy lần

                                                                  Hỏi thăm cô gái má bồ quân

                                                                  Mái đầu tóc xoã xanh bên giếng

                                                                  – Vâng, đúng nhà em, bác nghỉ chân

                                                                  – Ô kìa, cô bé nói hay sao!

                                                                  Nhà của tôi, ai lại hỏi chào

                                                                  Như thể khách đường xa ghé lại

                                                                  Bố đi đâu, hĩm, mẹ đâu nào ?

                                                                 Nhiều đấy ư em, mấy tuổi rồi ?

                                                                 – Hai mươi.

                                                                 – Ờ nhỉ, tháng năm trôi

                                                                 Sóng bồi thêm bãi, thuyền thêm bến

                                                                 Gió lộng đường khơi, rộng đất trời !

(Tố Hữu, Mẹ Tơm)

Trả lời:

Anh (chị) hãy ôn lại những đặc trưng của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt và đối chiếu xem đoạn trích thể hiện những đặc trưng nào của nó.

Đoạn trích thơ có hội thoại giữa tác giả với cô gái tên là Nhiều (một dạng ngôn ngữ hội thoại phổ biến). Đoạn hội thoại tuy nằm trong bài thơ (phong cách ngôn ngữ nghệ thuật) nhưng vẫn mang nhiều biểu hiện của ngôn ngữ sinh hoạt như:

– Có lời hỏi, lời đáp. Lời nói ngắt ra từng nhịp ngắn phù hợp với ngôn ngữ sinh hoạt tự nhiên.

– Có các lượt lời của hai nhân vật tham gia hội thoại. Hai nhân vật đó luân phiên lượt lời cho nhau.

– Có các từ xưng hô trong hội thoại trực tiếp, các từ tình thái thể hiện tình cảm, cảm xúc.

 6. Phân tích giá trị của phép tu từ trong hai câu thơ sau :

Đầu xanh đã tội tình gì,

Má hồng đến quá nửa thì chưa thôi.

(Nguyễn Du, Truyện Kiều)

Trả lời:

– Giới thiệu hai câu thơ.

– Chỉ ra phép tu từ được sử dụng: Đầu xanh, má hồng là hai từ ngữ có cả phép hoán dụ và ẩn dụ. Đầu xanh tượng trưng cho người con gái trẻ trung, trong trắng; má hồng tượng trưng cho thân phận bất hạnh của người con gái.

– Phân tích và đánh giá tác dụng biểu đạt của hai hình ảnh này.

7. Phát hiện và phân tích giá trị của phép điệp trong đoạn trích sau :

Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do ! Dân tộc đó phải được độc lập !

(Hồ Chí Minh, Tuyên ngôn Độc lập)

Trả lời:

– Giới thiệu xuất xứ của đoạn trích.

– Chỉ ra phép điệp :

+ Điệp từ ngữ;

+ Điệp các thành phần câu.

– Phân tích giá trị của phép điệp: Giọng văn dồn dập, đanh thép khẳng định quyền được hưởng tự do, độc lập của dân tộc ta.

 8. Hãy lập bảng để ghi nhớ và sử dụng ba kiểu văn bản : tự sự, thuyết minh, nghị luận theo 3 nội dung : đặc điểm, nội dung, phương thức biểu đạt.

Trả lời:

Nên dựng 3 cột dọc : Tự sự – Thuyết minh – Nghị luận. Sau đó triển khai các ý theo 3 hàng ngang : Đặc điểm – Nội dung – Phương thức biểu đạt.

9. Hãy viết một bài văn ngắn nói lên suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến sau đây của nhà thơ Pháp La Phông-ten: “Tính ích kỉ là thuốc độc giết chết tình bạn”.

Trả lời:

Bài văn cần nêu bật nội dung: Tính ích kỉ là liều thuốc độc làm tan vỡ tình bạn.

Người ích kỉ sẽ không có bạn.

Sau đây là một số gợi ý :

– Thế nào là tính ích kỉ trong tình bạn ?

– Vì sao tính ích kỉ là liều thuốc độc giết chết tình bạn ?

– Xây dựng tình bạn tuổi trẻ ở học đường: chân thành, biết quan tâm đến bạn bè, biết hi sinh vì bạn khi cần thiết.

10. Hãy viết một đoạn vãn để bày tỏ ý kiến của anh (chị) về vấn nạn in-tơ-nét “đen” hiện nay.

Trả lời:

– Đoạn văn có thể nêu nội dung :

+ Thế nào là in-tơ-nét “đen” ?

+ Tác hại của in-tơ-nét “đen” ?

+ Làm thế nào để ngăn chặn hậu quả của nó ?

– Khi viết đoạn văn, cần tập trung làm rõ ý chính, tính liên kết và mạch lạc giữa các câu trong đoạn.

11. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng viết : “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước“.

Phân tích một vài tác phẩm thơ văn trung đại để chứng minh tình cảm ấy của cha ông ta đã được thể hiện một cách thật sâu sắc, đa dạng và phong phú.

Trả lời:

a) – Vấn đề cần nghị luận : Lòng yêu nước của dân tộc ta đã được nhiều tác phẩm văn học trung đại thể hiện sâu sắc, đa dạng và phong phú, trở thành một nội dung lớn mà ta có thể gọi là “chủ nghĩa yêu nước” trong văn học.

– Những ý cụ thể : Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam được văn học từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX thể hiện tập trung ở các khía cạnh : Ý thức tự cường dân tộc – Lòng căm thù giặc, nêu cao lí tưởng nhân nghĩa, quyết chiến, quyết thắng bọn giặc ngoại xâm – Yêu thiên nhiên tươi đẹp – Tự hào trước những chiến công hiển hách của cha ông – Tin ở ngày mai đất nước tươi đẹp, cuộc sống của nhân dân no ấm, thanh bình… Những cảm xúc yêu nước ấy đã được các tác giả thể hiện một cách sâu sắc, đa dạng và phong phú.

b) Tham khảo dàn ý sau :

– Mở bài : Từ một ý chung về đạo lí dân tộc, dẫn câu viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh…, từ đó nêu vấn đề cần nghị luận và giới hạn các tác phẩm văn chương mà mình sẽ sử dụng.

– Thân bài : Lần lượt phân tích theo các ý cụ thể đã nêu trên. Có thể sử dụng các tác phẩm : Sông núi nước Nam, Hịch tướng sĩ, Đại cáo bình Ngô, Phú sông Bạch Đằng, Cảnh ngày hè, Qua Đèo Ngang,… để lựa chọn dẫn chứng và phân tích.

Trong quá trình phân tích, chứng minh, cần bình luận, đánh giá tính sâu sắc, đa dạng, phong phú của chủ nghĩa yêu nước trong văn chương không chỉ biểu hiện ở các khía cạnh nội dung như các ý cụ thể nêu trên, mà còn toát ra từ thể loại tác phẩm, ngôn ngừ nghệ thuật, từ giọng điệu, hình ảnh bộc lộ những cung bậc cảm xúc khi nhẹ nhàng thấm thía, lúc mạnh mẽ hào hùng, có khi vút lên như bài ca vang vọng, có lúc lại lắng xuống để nghĩ suy, triết lí…

– Kết bài: Tổng hợp các ý, vận dụng vào lịch sử kháng chiến chống ngoại xâm và công cuộc xây dựng đất nước ngày nay, từ đó có thể rút ra bài học về đạo lí cho bản thân.

12. Viết về một bài thơ trung đại Việt Nam (được học hoặc đọc thêm) mà anh (chị) tâm đắc nhất.

Trả lời:

Có thể viết về bất cứ bài thơ nào mà mình yêu thích. Trong quá trình giới thiệu, giải mã bài thơ, cần nhấn mạnh ý: Vì sao mình tâm đắc nhất ? (Vì chiều sâu của nội dung, vì vẻ đẹp của nghệ thuật hay vì ý nghĩa giáo dục, tư tưởng, tâm hồn đối với riêng mình,…)

13. Cảm nhận của anh (chị) về tính nhân đạo qua hai đoạn trích: Trao duyên (Truyện Kiều – Nguyễn Du), Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (Chinh phụ ngâm – nguyên tác chữ Hán: Đặng Trần Côn, bản dịch Nôm: Đoàn Thị Điểm (?)).

Trả lời:

Cảm nhận về tính nhân đạo trong hai đoạn trích.

a) Trao duyên

– Thấu hiểu tâm trạng phức tạp, đầy mâu thuẫn và khát vọng tình yêu của Thúy Kiều.

– Trân trọng vẻ đẹp tâm hồn và đồng cảm với nỗi đau của nàng.

b) Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

Cảm thông sâu sắc với tâm trạng nhớ thương sầu muộn của người chinh phụ trong tình cảnh lẻ loi và niềm khao khát hạnh phúc của nàng. Đồng thời, đoạn trích còn là tiếng nói tố cáo chiến tranh phong kiến phi nghĩa.

14. Phân tích sự phát triển của tư tưởng yêu nước từ bài Sông núi nước Nam (tương truyền của Lý Thường Kiệt) qua bài Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn) đến bài Đại cáo bình Ngô (Nguyễn Trãi).

Trả lời:

 Giới thiệu khái quát về tư tưởng yêu nước qua ba tác phẩm : Sông núi nước Nam, Hịch tướng sĩ và Đại cáo bình Ngô.

Phân tích sự phát triển của tư tưởng yêu nước qua ba tác phẩm trên :

– Sông núi nước Nam – bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc : Khẳng định chủ quyền quốc gia, cương vực lãnh thổ, sức mạnh chính nghĩa của lòng yêu nước.

 Hịch tướng sĩ – mệnh lệnh chiến đấu bảo vệ đất nước.

+ Cảm nhận sâu sắc nỗi nhục mất nước, lòng tự trọng, tự tôn dân tộc.

+ Gắn liền quyền lợi của quốc gia dân tộc với quyền lợi của mỗi người.

+ Tuy ý thức dân tộc vẫn nằm trong quan niệm phong kiến, nước gắn với vua, trung với vua là yêu nước nhưng bước đầu đã nêu quan hệ gắn bó giữa người dân với đất nước.

– Đại cáo bình Ngô – một bước phát triển mới, toàn diện và sâu sắc hơn về tư tưởng yêu nước trong văn học trung đại Việt Nam.

+ Trong Sông núi nước Nam, quan niệm về quốc gia, dân tộc được xác định chủ yếu trên hai yếu tố: lãnh thổ và chủ quyền.

+ Quan niệm về quốc gia, dân tộc trong Đại cáo bình Ngô bổ sung thêm ba yếu tố: văn hiến, phong tục tập quán và lịch sử. Quan niệm của Nguyễn Trãi sâu sắc hơn vì ông đã ý thức được văn hiến, truyền thống lịch sử là yếu tố cơ bản nhất để xác định dân tộc.

+ Trong Sông núi nước Nam, khẳng định Nam đế, tác giả nhằm mục đích đối lập với Bắc đế, phủ định tư tưởng : “Trời không có hai mặt trời, đất không có hai hoàng đế”. Nguyễn Trãi so sánh trực tiếp giữa hai vua “mỗi bên hùng cứ một phương”. Tác giả Sông núi nước Nam khẳng định độc lập chủ quyền bằng “thiên thư” còn Nguyễn Trãi lại khẳng định bằng chính lịch sử của dân tộc.

+ Trong Sông núi nước Nam, quyền lợi của đất nước bước đầu gắn liền với quyền lợi của mỗi người. Trong Đại cáo bình Ngô, ý thức dân tộc gắn liền với tư tưởng nhân nghĩa và vai trò của nhân dân. Nhân nghĩa nhằm yên dân, trước nhất là trừ bạo, nhân nghĩa phải gắn liền với chống xâm lược.

Bài mẫu số3 : soạn bài kiểm tra văn học lớp 10

1. Chọn phương án trả lời chính xác cho những trường hợp dưới đây:

(1) Đặc trưng cơ bản của văn học dân gian là :

A. Tính truyền miệng và tính tập thể

B. Tính truyền miệng, tính tập thể, sự gắn bó mật thiết với sinh hoạt cộng đồng

C. Tính truyền miệng, tính tập thể, thường được diễn xướng ở dân gian

D. Cả ba câu trả lời trên đều chưa đúng

(2) Thể loại nào không phải là văn học dân gian ?

A. Chèo

B. Cải lương

C. Ca dao

D. Truyện thơ

(3) Trong các câu trả lời dưới đây, câu nào không đúng ?

Các nhân vật Đăm Săn, Uy-lít-xơ, Ra-ma giống nhau ở chỗ :

A. Đều là hình tượng trung tâm trong tác phẩm sử thi

B. Đều là người anh hùng vĩ đại, kết tinh những phẩm chất lí tưởng của cộng đồng

C. Đều quyết tâm chiến thắng mọi trở ngại, thách thức, để thoả mãn khát vọng vươn đến mục đích cao cả nhất trong cuộc sống

D. Đều có một kết cục bi thương

(4) Nhân vật Mị Châu đáng trách ở chỗ :

A. Tâm hồn quá trong sáng, dẫn đến ngây thơ, cả tin

B. Quá yêu chồng

C. Mất cảnh giác, “trái tim lầm chỗ để trên đầu”

D. Là thủ phạm chính gây ra hoạ mất nước

(5) Chi tiết nào thể hiện một tưởng tượng bất ngờ, thật đáng yêu của người dân quê Việt Nam chất phác ?

A. Tấm nuôi cá bống

B. Tấm có đôi bàn chân nhỏ nhắn

C. “Chớ phơi bờ rào” – Cung vua có bờ rào

D. Tấm biết têm trầu cánh phượng

(6) Đâu là tác phẩm thuộc nền văn học trung đại Việt Nam ?

A. Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác (1914)

B. Sống chết mặc bay (1918)

C. Bản án chế độ thực dân Pháp (1925)

D. Cả A, B, C đều không đúng

(7) Vui vầy với thiên nhiên giản dị, trong sạch, xem giàu sang như giấc chiêm bao, đó là thái độ sống thể hiện trong bài thơ nào ?

A. Cáo bệnh bảo mọi người

B. Hứng trở về

C. Cảnh ngày hè

D. Nhàn

(8) Có thể dùng câu Kiều nào để nói về hướng cảm xúc mà Nguyễn Du đã thể hiện trong bài thơ Độc Tiểu Thanh kí ?

A. Khéo dư nước mắt khóc người đời xưa

B. Mỗi lời là một vận vào […]

C. Cả A và B đều đúng

D. Cả A và B đều không đúng

(9) Anh (chị) đã biết, Lí Bạch và Đỗ Phủ là hai nhà thơ lớn nhất của thời Đường. Hãy cho biết, hai bài thơ nào trong số kể dưới đây là tác phẩm của hai bậc thi hào đó.

A. Lầu Hoàng Hạc và Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng

B. Lầu Hoàng Hạc và Cảm xúc mùa thu

C. Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng và Cảm xúc mùa thu

D. Nỗi oán của người phòng khuê và Khe chim kêu

(10) Trong những câu thơ (hoặc ca dao) dưới đây, câu nào có sử dụng phép tu từ hoán dụ ?

A. Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn (ca dao về bông sen)

B. Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên (Chinh phụ ngâm)

C. Làn thu thuỷ, nét xuân sơn (Truyện Kiều)

D. Con thuyền buộc chặt mối tình nhà (Đỗ Phủ)

2. Viết một bài văn tự sự ngắn, kể về một kỉ niệm đáng nhớ xảy ra ở tuổi thơ ấu, hoặc ở quê nhà. Khi viết bài, cần làm cho bài văn thêm chân thực, sinh động, gợi cảm, bằng các cách :

a) Chọn đưa vào bài nhiều sự việc, chi tiết tiêu biểu ;

b) Thêm các yếu tố miêu tả và biểu cảm một cách hợp lí.

Trả lời:

Có thể học tập cách viết của nhà văn Nam Cao trong trích đoạn tự sự sau :

MÓN BÁNH ĐÚC CỦA BÀ XÃ VẬN

Dì Hảo là con nuôi của bà tôi. Bố đẻ của dì đã chết từ lâu. Mẹ đẻ dì là bà xã Vận, một người đàn bà bán bánh đúc xay, ngon có tiếng khắp làng Vũ Đại. Tôi biết bà vì hồi bé tôi rất ưa ăn bánh đúc. Có lẽ lúc sinh tôi ra, ông trời đã định sẵn cho tôi một cái kiếp chẳng giàu sang, nên phú sẵn cho tôi cái tính thích những món ăn rẻ tiền của những người nghèo túng. Lúc có tôi thì nhà tôi chẳng còn nghèo. Thế mà tôi cứ thấy ăn cơm gạo đỏ, thổi khô khô, với rau muống luộc chấm tương ngon hơn cơm tám với thịt đông, mà cái bánh đúc xay nấu khéo còn đậm vị gấp nghìn lần cái bún tuy trắng, tuy mềm, nhưng nhạt bét. Mỗi sáng, tôi cầm hai xu mẹ phát cho […] đi ra hàng – hàng là một cái chợ nhỏ của làng tôi, mỗi sáng chỉ họp độ một giờ đã tan – từ đằng xa, tôi đã trông thấy những người đàn bà váy bạc phếch xúm xít quanh mẹt bánh đúc của bà xã Vận. Bà thái không kịp bán. Tuy vậy, mới trông thấy tôi, bà đã ngừng dao, nhặt bốn tấm bánh gói gọn ghẽ vào lá chuối, tươi cười đưa cho. Không phải bà thấy tôi ngộ nghĩnh đáng yêu. Nhưng bà không thể quên rằng bà còn nợ bà tôi mấy chục bạc. […] Tôi đưa hai xu, ôm bốn tấm bánh về. Bà bán đúng một trinh một tấm, mua nhiều hay ít thì cũng thế. Tấm bánh chắng lấy gì làm to, so với bánh của người khác có phần hơi đắt. Nhưng mà ngon hơn. Cái bột xay rất nhuyễn, vôi bỏ vừa, mịn chắc đấy, nhưng không nồng một tí nào, bẻ ra ăn với cá bống kho ráo nước cho đến cong lên, dầm vào một tí tương cua thì thật tuyệt ! về sau, ngọn gió đời đã đưa đẩy tôi trải qua rất nhiều cảnh huống : vất vả nhiều, nhưng cũng có lúc phong lưu, có lúc tôi có thể thừa cách mà hưởng tất cả các cao lương mĩ vị, nhưng chưa bao giờ tôi gặp một món ăn có thể làm tôi quên được cái vị thanh đạm mà vẫn đậm đà của bánh đúc ăn với cá bống dầm tương, nghĩ đến bây giờ mà tôi cũng còn nuốt nước bọt.

(Trích truyện ngắn Dì Hảo, trong : Tuyển tập Nam Cao,

NXB Văn học, Hà Nội, 2005, tr. 330-331. Tên bài do NBS tạm đặt)

3. Anh (chị) phải viết một bài văn thuyết minh để giới thiệu một kinh nghiệm học Văn hoặc Làm văn. Hãy cho biết :

a) Anh (chị) dự định giới thiệu kinh nghiệm cụ thể nào (tìm hiểu văn bản, sưu tầm tư liệu, xây dựng bố cục, trau chuốt lời văn, tập làm văn…) ?

b) Anh (chị) đã thật tự tin vào sự khoa học, chuẩn xác của kinh nghiệm đó chưa ?

c) Anh (chị) sẽ giới thiệu kinh nghiệm đó theo dàn bài cụ thể nào ?

d) Diễn đạt một vài ý của dàn bài đó thành một (hoặc hai, ba) đoạn văn ; chú ý viết sao cho các câu trong đoạn thật chuẩn xác về ý và về ngữ pháp.

Trả lời:

ham khảo đoạn trích sau :

Đã có bao giờ bạn tự hỏi : Vì sao tên của cái môn học vẫn khiến bạn lo ngại và chán ngán kia, theo cách gọi thông thường, lại bắt đầu bằng chữ Tập – Tập làm văn, chứ chưa phải là đã thực sự làm văn ? Bởi vì, bạn ạ, công việc của bạn ở đây là luyện tập, chả khác nào người chiến sĩ tập chiến đấu hôm nay, để ngày mai, nếu cần, chiến đấu cho thực tốt.

Nhưng tập làm văn, nói cho cụ thể, là luyện tập việc gì ?

Hãy bàn riêng về văn nghị luận. Đó là tập thuyết phục một loại đối tượng, làm cho họ nghe theo cách chúng ta giải quyết một vấn đề, bằng những lời nói hợp lẽ phải và sự thật, mang sức mạnh của kiến thức và luận lí. Có điều, cũng như kẻ thù của người chiến sĩ đang tập chiến đấu kia chỉ là kẻ thù giả định (hình nộm hoặc tấm bia), đối tượng phải thuyết phục này cũng tạm thời chưa xuất hiện trước mắt người đang tập làm văn. Nhưng để việc luyện tập có kết quả thì ta phải hình dung đối tượng giả định đó như có thật, như đã được đề bài quy định hẳn hoi rồi. Đó là người chưa hiểu rõ cái nghĩa hoặc/và cái lí của một điều nào đó, là người chưa rõ căn cứ chắc chắn của một kết luận trong văn chứng minh, là người đang muốn nghe ta phẩm bình, bàn luận về một hiện tượng/vấn đề nào đó trong văn bình luận…

Bạn thấy không, đối tượng giao tiếp trong văn nghị luận luôn thay đổi theo sự thay đổi của các kiểu bài. Không hề có một thứ đối tượng, một thứ “người đọc” chung chung, bất biến, tồn tại như nhau ở mọi đề bài. Càng không bao giờ có chuyện người mà ta thuyết phục lại là, và chỉ là thầy cô giáo ; các thầy cô đâu cần phải nhờ vả đến ý kiến của chúng ta ?

Điều hết sức quan trọng của nghệ thuật làm văn nghị luận, theo đó, chính nằm ở chỗ làm sao hình dung, tưởng tượng ra thật đúng đối tượng giao tiếp đích thực của mình, cảm thấy họ như đang ở trước mình, hiểu họ cần gì ở mình, để thật sự hướng tới họ, thật sự nói năng với họ trong suốt quá trình nghị luận. Theo nghĩa ấy, tập làm văn là tập làm một việc cho người khác, vì người khác, chứ không phải cho mình.

Có thể bạn sẽ thắc mắc: thế còn quy trình, thao tác về các kiểu bài mà thầy cô từng dạy, và các bài mẫu mà bạn còn có nhiều hơn ? Tôi không dám nói các quy trình mẫu, dàn ý mẫu hay bài mẫu ấy là không quan trọng. Song chúng chỉ quan trọng khi nhờ đó, bạn học hỏi được, và hiểu được một phương cách tốt nhằm đạt tới hiệu quả thuyết phục đối tượng của mình. Và chúng sẽ không còn ý nghĩa gì hết, nếu bạn chỉ coi đó là thứ trật tự cứng nhắc, hoặc ước định vô hồn mà mình bắt buộc phải tuân theo chỉ vì muốn bài làm của mình được coi là hợp lệ.

Do đó, chẳng hạn, bạn đừng nên máy móc học thuộc lòng rằng: muốn làm bài giải thích thì bắt buộc chúng ta, đầu tiên, phải giải nghĩa khái niệm, rồi sau đó, giải thích nguyên nhân … Bạn nên đi theo một con đường khác. Hãy cố đặt mình vào địa vị của người cần giải thích. Để xét xem, nếu là người ấy thì để hiểu cái điều nêu ở đề bài, bạn cần giảng giải những gì, và theo một trình tự thế nào cho hợp lí. Có thể tới lúc ấy, những gì được học về kiểu bài giải thích sẽ trở về trong tâm trí bạn, với thực chất sống động của nó, trong tư cách những sự gợi ý, những lời mách bảo. Mà cũng chỉ là gợi ý, mách bảo thôi. Những mẫu mực của học đường ấy có bao giờ ngăn trở chúng ta sáng tạo ?

Bài mẫu số4 : soạn bài kiểm tra văn học lớp 10

1. Ma trận đề thi học kì 1 môn Văn 10 KNTT

TTKĩ năngNội dung/đơn vị kiến thứcMức độ nhận thứcTổng

% điểm

Nhận biếtThông hiểuVận dụngVận dụng cao
TNKQTLTNKQTLTNKQTLTNKQTL
1

 

Đọc hiểu

 

Truyện ngắn/ Thơ/ Văn nghị luận.

 

0102010040
2Viết

 

Viết được một văn bản nghị luận về tác phẩm truyện/ thơ.01*01*01*0160
Tổng020030030020100
Tỉ lệ %20%30%30%20%
Tỉ lệ chung50%50%

2. Đề thi cuối kì môn Văn 10 KNTT – đề 1

PHẦN I. Đọc – hiểu

Đọc đoạn trích:

Bản chất của học vấn phụ thuộc vào khả năng ứng dụng. Có học vấn mà không ứng dụng được vào cuộc sống thực tế thì chẳng khác gì vô học. […]

Theo như suy nghĩ của tôi, bản chất thật sự của học vấn là phải động não suy nghĩ, chứ không phải chỉ là đọc sách một cách đơn thuần.

Để ứng dụng sống động suy nghĩ đó vào cuộc sống thực tế thì cần phải biết trù tính, lo liệu. Tức là phải quan sát sự vật. Phải suy đoán đạo lí của sự vật. Phải đưa ra chính kiến, cách nghĩ cách làm của bản thân mình. Ngoài ra, đương nhiên là còn phải đọc sách, phải viết sách. Phải nói lên ý kiến của mình cho người ta nghe. Phải tranh luận. Biết vận dụng tổng hợp các biện pháp như vậy thì mới được gọi là nghiên cứu học vấn.

Quan sát sự vật, suy luận, đọc sách là cách để tích lũy tri thức. Bàn bạc, tranh luận là cách để trao đổi tri thức. Viết, diễn thuyết là cách để mở rộng tri thức.

(Fukuzawa Yukichi, Khuyến học, Người dịch: Phạm Hữu Lợi, NXB Thế Giới, 2018, trang 167-168)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1 (0.5 điểm). Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích.

Câu 2 (1.0 điểm). Theo đoạn trích, “bản chất thật sự của học vấn” là gì?

Câu 3 (1.0 điểm). Theo anh/chị, vì sao tác giả khuyên mọi người phải đọc sách?

Câu 4 (1.5 điểm). Anh/chị có đồng ý với ý kiến “có học vấn mà không ứng dụng được vào cuộc sống thực tế thì chẳng khác gì vô học” không? Vì sao?

Phần II. Làm văn

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá bài Chiều xuân của Anh Thơ.

Mưa đổ bụi êm êm trên bến vắng,

Đò biếng lười nằm mặc nước sông trôi;

Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng

Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời.

Ngoài đường đê cỏ non tràn biếc cỏ,

Đàn sáo đen sà xuống mổ vu vơ

Mấy cánh bướm rập rờn trôi trước gió.

Những trâu bò thong thả cúi ăn mưa.

Trong đồng lúa xanh rờn và ướt lặng

Lũ cò con chốc chốc vụt bay ra,

Làm giật mình một cô nàng yếm thắm.

Cúi cuốc cào cỏ ruộng sắp ra hoa.

3. Đáp án đề thi cuối kì môn Văn 10 KNTT – đề 1

PhầnCâuNội dungĐiểm
I1Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích là nghị luận.0.5
2Theo đoạn trích, “bản chất thật sự của học vấn” là phải động não suy nghĩ.1.0
3Tác giả khuyên mọi người phải đọc sách vì:

– Sách lưu trữ kho tàng tri thức quý giá của nhân loại được lưu trữ qua nhiều đời.

– “Nếu chúng ta mong tiến lên từ văn hóa, học thuật của giai đoạn này, thì nhất định phải lấy thành quả nhân loại đã đạt được trong quá khứ làm điểm xuất phát.”

– Đọc sách là muốn trả món nợ đối với thành quả nhân loại trong quá khứ…”

– Những tri thức, kĩ năng trong sách giúp chúng ta chuẩn bị thiết thực, chủ động, hiệu quả để “làm được cuộc trường chinh vạn dặm trên con đường học vấn, nhằm phát hiện thế giới mới.”, tức là giúp người đọc:

+ Nâng cao nhận thức, bồi bổ trí tuệ, phát triển tâm hồn, tình cảm, rèn giũa hành động.

+ Đóng góp, làm giàu cho tri thức nhân loại.

1.0
4Học sinh có thể đồng ý hoặc không đồng ý nhưng cần có kiến giải hợp lí. Hướng dẫn đồng ý vì:

– Tục ngữ: “Học đi đôi với hành”.

– “Vô học” chỉ tình trạng không có tri thức, ở đây là kiến thức tích lũy chỉ thể hiện ở lí thuyết, sách vở mà không áp dụng vào thực tế. Con người sống trong cuộc đời với muôn mặt đời thường chứ không đóng khung trong sách vở nên học vấn chỉ thực sự phát huy tác dụng khi ứng dụng vào cuộc sống thực tế.

– Khả năng áp dụng những điều học được vào thực tế thể hiện sự linh hoạt của chủ thể, cho thấy năng lực thật của con người chứ không phải sự sao chép, học vẹt.

Không đồng ý vì:

– Những người vô học không nhất thiết phải là không áp dụng vào thực tế mà vì thật sự không có kiến thức gì để áp dụng.

– Vô học còn được kể đến trong trường hợp tích lũy được tri thức, có năng lực nhưng lại áp dụng vào những việc có hại cho cộng đồng.

 

1.5
II 1). Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận (0.5 điểm)

– Điểm 0,5 điểm: Trình bày đầy đủ các mở bài, thân bài, kết bài. Phần mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau.

– Điểm 0,25: Trình bày đầy đủ 3 phần mở bài, thân bài, kết bài, nhưng các phần chưa thể hiện được đầy đủ yêu cầu trên; phần thân bài chỉ có 1 đoạn văn.

– Điểm 0: Thiếu mở bài hoặc kết luận, Thân bài chỉ có 1 đoạn văn hoặc cả bài viết chỉ có 1 đoạn văn.

0.5
 2). Chia tách đoạn phù hợp theo nội dung văn bản ( 5,0 điểm)

I. Mở bài:

Giới thiệu về tác giả Anh Thơ và tác phẩm Chiều xuân

II. Thân bài

* Phân tích đánh giá về giá trị nội dung của bài thơ: Bài thơ đã khám phá được một thứ “điệu sống” của bao làng quê thuở trước: lặng lẽ, êm đềm, bình dị mà khá nên thơ.

– Khổ 1: Cảnh một chiều mưa bụi với hình ảnh bến sông vắng khách, con đò nằm gần như bất động, quán tranh xơ xác bên chòm xoan rụng đầy hoa tím.

– Khổ 2: Khung cảnh trên đê

– Khổ 3: Khung cảnh cánh đồng

* Đánh giá những nét đặc sắc về nghệ thuật

– Khả năng quan sát tinh tường ở bài thơ không chỉ ở cảnh, ở người của những làng quê Việt ngày xưa mà thi nhân còn thổi hồn vào đó.

– Biện pháp nhân hóa, ẩn dụ được sử dụng khá thành công để tạo nên bức tranh tâm trạng. Từ con đò, quán vắng, đường đê, … Và kết thúc là một hình ảnh rất ấn tượng, có hồn – cô nàng yếm thắm.

– Tả người và tả cảnh thật rung động mà dung dị, hồn nhiên

III. Kết bài

Khẳng định giá trị tư tưởng, giá trị thẩm mĩ của bài thơ, ý nghĩa của bài thơ đối với bạn đọc

 

 

0.5

 

 

 

 

1.0

 

1.0

1.0

 

1.0

 

 

 

 

 

 

 

0.5

  3). Sáng tạo (0.5 điểm)

Ø Điểm 0,5: Có nhiều cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo (viết câu, sử dụng từ ngữ, hình ảnh và các yếu tố biểu cảm,…); có quan điểm và thái độ riêng sâu sắc nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

Ø Điểm 0,25: Có một số cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo; thể hiện được một số suy nghĩ riêng sâu sắc nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

Ø Điểm 0: Không có cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo; không có quan điểm và thái độ riêng hoặc quan điểm, thái độ trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

Các lỗi khác GV dựa vào bài làm để linh hoạt cho điểm

0.5

Bài mẫu số5 : soạn bài kiểm tra văn học lớp 10

I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)

Đọc văn bản:

Nữ thần Mặt Trời và Mặt Trăng

Vua trên trời là Ngọc Hoàng có hai con gái đẹp. Ngọc Hoàng yêu quý hai nàng lắm nên cho các nàng hàng ngày luân phiên nhau đi xem xét mọi việc của hạ giới để báo lại cho nhà Trời. Cô gái đầu tên là Mặt Trời được ngồi kiệu hoa có bốn người khiêng. Bốn người này chia làm hai tốp: một tốp già và một tốp trẻ. Tốp các cụ già khiêng kiệu luôn luôn lo làm tròn phận sự, chăm chỉ vào công việc nên cô Mặt Trời thường đi một vòng rất nhanh. Còn tốp trẻ bản tính la cà nên những lần được phân công khiêng kiệu thường về muộn. Vì thế, mỗi lần Mặt Trời đi với tốp trẻ thì ngày dài, và đi với tốp già thì ngày lại ngắn.

Mặt Trăng là cô em tính tình nóng nảy còn hơn cả cô chị. Sức nóng của cô đã làm hại cho người và muôn vật khá nhiều. Ấy thế mà cô vẫn cứ chỏng lỏn, đi đâu cũng sà vào khiến cho nhân dân vô cùng kinh hãi. Trần gian khổ sở vì cô Mặt Trăng, họ đã kêu ca rất nhiều, tiếng thấu lên Thượng giới khiến cho bà mẹ đã định lấy tro mà bôi lên mặt cô để giảm bớt sức nóng đi. Nhưng Ngọc Hoàng chiều con, nên không để cho vợ làm việc ấy.

Bấy giờ ở dưới trần có một chàng trai tên là Quải. Quải là con mồ côi nhưng lại có một thân thể cực kỳ to lớn và sức khỏe tuyệt vời. Trước những hành động tai ác của cô Mặt Trăng, Quải quyết tâm trị cho một mẻ. Anh ta đón đường cô Trăng trên một đỉnh núi cao và trữ sẵn một đống cát thật lớn. Hôm ấy, cô Mặt Trăng vẫn quen thói cũ vừa đi vừa sà xuống để nhìn muôn vật, Quải chờ cho cô ta đến gần rồi bất thình lình bốc cát ném túi bụi vào mắt, vào mặt mũi cô. Cô Trăng đang rong chơi, bị tấn công đột ngột, nhắm mắt lại nhưng đất đã dính đầy mặt và chui cả vào trong mắt. Cô ta hốt hoảng vội vụt bay lên cao, lảng ra xa chỗ Quải đứng.

Từ đó trở đi cô không dám sà xuống gần mặt đất nữa. Mặt mũi cô bị cát dính chặt nên không còn sáng được như xưa. Sau này tính tình của cô trở nên dịu dàng, hiền lành hơn, ở dưới trần ai cũng thích. Người ta nói mỗi lần cô ngoảnh mặt xuống nhân gian thì lúc đó là trăng rằm, cô quay lưng tức là ba mươi, mùng một, còn cô trở sang trái, sang phải tức là thời kỳ trăng hạ huyền hoặc thượng huyền. Còn những khi trăng quầng, ấy là lúc cát bụi trát mặt bị gió thổi bay tung ra.

Lại nói chuyện chồng của hai nữ thần này. Đó là một con gấu rất to khoẻ. Không rõ gấu từ đâu đến và Ngọc Hoàng đã gả các cô con gái của mình cho gấu từ bao giờ. Chỉ biết rằng gấu rất hay ghen nên theo dõi sự đi lại của hai vợ mình rất chặt chẽ. Mỗi lần gấu đến với vợ là lúc ở dưới trần gian thường gọi là nhật thực hay nguyệt thực. Gặp những ngày này, nhân gian lại phải đánh chiêng, đánh trống rầm rĩ để cho gấu sợ mà lui ra xa vì gấu đi lại với vợ, che lấp Mặt Trời, Mặt Trăng làm hại cho mùa màng và các nữ thần này cũng vì vậy mà xao nhãng công việc.

(Theo Viện Văn học, Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam, tập 1: Thần thoại – truyền thuyết, NXB Giáo dục, 1999)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1: Văn bản trên thuộc thể loại gì? Cho biết không gian, thời gian của truyện? (1,0 điểm)

Câu 2: Xác định người kể chuyện trong văn bản. (1,0 điểm)

Câu 3: Hãy nêu nội dung chính của truyện “Nữ thần Mặt Trời và Mặt Trăng” (1,0 điểm)

Câu 4: Nữ thần Mặt Trời, Mặt Trăng trong truyện được Ngọc Hoàng giao nhiệm vụ gì? Qua hai nữ thần, tác giả dân gian đã giải thích các hiện tượng tự nhiên nào? (1,0 điểm)

Câu 5: Trong truyện, nhân vật Quải là người như thế nào? Theo anh/chị, chi tiết Quải ném cát túi bụi vào Mặt Trăng được tác giả dân gian xây dựng nhằm mục đích gì? (1,0 điểm)

Câu 6: Trong những điều làm nên vẻ đẹp “một đi không trở lại” của thần thoại, có niềm tin thiêng liêng về một thế giới mà ở đó vạn vật đều có linh hồn. Theo anh/chị, niềm tin ấy có còn sức hấp dẫn với con người hiện đại không? Vì sao? (1,0 điểm)

II. LÀM VĂN (4,0 điểm)

Anh/chị hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích một chi tiết kì ảo trong truyện “Nữ thần Mặt Trời và Mặt Trăng”.

5. Đáp án đề thi cuối kì môn Văn 10 KNTT – đề 2

I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)

Câu 1: (1,0 điểm)

– Văn bản trên thuộc thể loại thần thoại suy nguyên. (0,5 điểm)

– Không gian: thiên đình, hạ giới (0,25 điểm), thời gian: thuở xa xưa. (0,25 điểm)

Câu 2: (1,0 điểm)

– Người kể chuyện trong truyện“Nữ thần Mặt Trời và Mặt Trăng” đại diện cho tác giả để kể lại câu chuyện. (0,5 điểm)

– Người kể chuyện này xuất hiện ở ngôi thứ ba (ẩn sau câu chuyện). (0,5 điểm)

Câu 3: (1,0 điểm)

Nội dung chính:

– Truyện“Nữ thần Mặt Trời và Mặt Trăng” giải thích nguồn gốc, đặc điểm, quy luật của các hiện tượng tự nhiên. (0,5 điểm)

– Truyện còn thể hiện khát vọng chế ngự, chinh phục tự nhiên của con người thời cổ. (0,5 điểm)

Câu 4: (1,0 điểm)

– Trong truyện, nữ thần Mặt Trời, Mặt Trăng được Ngọc Hoàng giao cho nhiệm vụ “hàng ngày luân phiên nhau đi xem xét mọi việc của hạ giới để báo lại cho nhà Trời”. (0,5 điểm)

– Qua hai nhân vật này, tác giả dân gian lí giải các hiện tượng tự nhiên: độ dài của ngày thay đổi theo mùa, hiện tượng trăng thượng huyền, hạ huyền, nhật thực, nguyệt thực,… (0,5 điểm)

Câu 5: (1,0 điểm)

– Trong truyện, nhân vật Quải được miêu tả là người to lớn và can đảm, sẵn sàng đối đầu với sự tai ác của cô em Mặt Trăng. (0,5 điểm)

– Hành động Quải tìm cách ném cát vào Mặt Trăng là chi tiết được tác giả dân gian xây dựng nhằm mục đích mô tả mối xung đột giữa con người với tự nhiên, đồng thời thể hiện ước mơ chế ngự tự nhiên của con người trong thời đại thần thoại. (0,5 điểm)

Câu 6: (1,0 điểm)

– Thời xa xưa, con người sống với niềm tin “vạn vật hữu linh” (mọi vật đều có linh hồn). Chính niềm tin đó giữ cho con người thái độ tôn kính, đối xử công bằng, yêu thương thế giới xung quanh. Niềm tin đó còn giúp trí tưởng tượng của con người sáng tạo ra biết bao câu chuyện thú vị để lí giải cuộc sống. (0,5 điểm)

– Niềm tin ấy vẫn còn sức hấp dẫn với con người hiện đại, bằng chứng là con người ngày nay vẫn đặt niềm tin vào thế giới siêu hình như thần thánh, ma quỷ, ông trời, thượng đế, số kiếp,… thông qua các hoạt động như lễ hội, phong tục thờ thần, cầu trời khấn Phật, xem bói… Tuy nhiên, con người cần biến những niềm tin ấy trở thành động lực, là nơi dựa cho sức mạnh tinh thần chứ không phải là nỗi lo sợ, mê tín hay ám ảnh về tâm trí. (0,5 điểm)

II. LÀM VĂN (4,0 điểm)

1. Đảm bảo cấu trúc đoạn văn nghị luận 200 chữ: (0,25 điểm)

2. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: (0,5 điểm)

3. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng để làm nổi bật được chi tiết kì ảo: (2,5 điểm)

– Giới thiệu cách hiểu chi tiết kì ảo và ý nghĩa của chúng trong thần thoại (chi tiết không có thật, có tính chất hoang đường, kì lạ được tạo ra nhằm dựng lên những câu chuyện thần kì, giải thích những sự kiện, sự việc chưa thể giải thích theo cách thông thường hoặc là để thần thánh hoá các nhân vật mà nhân dân ngưỡng mộ, tôn sùng…). (0,5 điểm)

– Giới thiệu một chi tiết kì ảo trong truyện“Nữ thần Mặt Trời và Mặt Trăng” và kể lại chi tiết đó (chẳng hạn chi tiết Nữ Thần Mặt Trời ngồi kiệu hoa có bốn người khiêng, chi tiết Nữ Thần Mặt Trăng bị chàng Quải ném cát vào mặt, chi tiết Ngọc Hoàng gả Nữ Thần Mặt Trời và Mặt Trăng cho gấu…) (1,0 điểm)

– Nêu ý nghĩa của chi tiết kì ảo đó (Chi tiết đó có vai trò tô đậm tính chất kì lạ, đẹp đẽ của nhân vật như thế nào? Thể hiện thái độ gì của nhân dân dành cho vị thần đó? Lí giải điều gì? Giải thích cho hiện tượng gì?…). (0,5 điểm)

– Nghệ thuật nổi bật khi xây dựng chi tiết kì ảo là biện pháp nhân hóa. (0,25 điểm)

– Khẳng định: các chi tiết kì ảo là cách con người dùng để thể hiện nhận thức, quan điểm của mình về thế giới tự nhiên, góp phần làm nên vẻ đẹp hấp dẫn của thần thoại. (0,25 điểm)

4) Sáng tạo: (0,5 điểm) Có cách diễn đạt sáng tạo, ý độc đáo, mới lạ.

5) Chính tả, dùng từ, đặt câu: (0,25 điểm) Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.

6. Đề thi cuối kì môn Văn 10 KNTT – đề 3

I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)

Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi:

(Xuý Vân vốn được cha mẹ sắp đặt gả cho Kim Nham, một học trò nghèo. Sau khi cưới, Kim Nham lên kinh dùi mài kinh sử; Xuý Vân buồn bã trong cảnh đợi chờ. Xuý Vân bị Trần Phương – một gã nhà giàu phong tình tán tỉnh, xui nàng giả điên để thoát khỏi Kim Nham. Xuý Vân nghe theo.)

XUÝ VÂN: […]

Chị em ơi!

Ra đây có phải xưng danh, không nào?

(Đế(1)) Không xưng danh ai biết là ai?

XUÝ VÂN:

Bước chân vào, tôi thưa rằng vậy,

Chẳng giấu gì Xuý Vân là tôi.

Tuy dại dột, tài cao vô giá,

Thiên hạ đồn rằng tôi hát hay đã lạ,

Ai cũng gọi là cô ả Xuý Vân.

Phụ Kim Nham, say đắm Trần Phương,

Nên đến nỗi điên cuồng rồ dại.

(Hát điệu con gà rừng(2)):

Con gà rừng, con gà rừng ăn lẫn với công,

Đắng cay chẳng có chịu được, ức!

Mà để láng giềng ai hay?

Bông bông dắt, bông bông díu,

Xa xa lắc, xa xa líu,

Láng giềng ai hay, ức bởi xuân huyên(3),

Chờ cho bông lúa chín vàng,

Để anh đi gặt, để nàng mang cơm.

Bông bông dắt, bông bông díu,

Xa xa lắc, xa xa líu,

Láng giềng ai hay, ức bởi xuân huyên.

(Tiếng trống nhịp nổi lên, Xuý Vân múa điệu bắt nhện, xe tơ, dệt cửi. Múa xong, Xuý Vân hát lên rồi cười và hát điệu sa lệch(4)…)

(Trích Xuý Vân giả dại, chèo Kim Nham, Theo Tư liệu tham khảo văn học Việt Nam, tập một – Văn học dân gian, BÙI VĂN NGUYÊN – ĐỖ BÌNH TRỊ chọn lọc, chú thích, giới thiệu, NXB Giáo dục, 1975)

Chú giải:

(1) Đế: nói chêm vào lời của diễn viên trên sân khấu chèo (người nói là khán giả hoặc các diễn viên khác đứng sau sân khấu đối đáp với các diễn viên trên sân khấu).

(2) Điệu con gà rừng: một điệu hát chèo, thường được dùng khi muốn diễn tả nỗi niềm đắng cay, bực tức của nhân vật.

(3) Xuân huyên: cha mẹ (xuân: một loại cây to, sống lâu, được dùng để chỉ người cha; huyên: một loài cây lá nhỏ, dài, thường ví với mẹ).

(4) Điệu sa lệch: một điệu hát chèo, thường được dùng khi cần thể hiện tâm trạng lưu luyến, nhớ thương hay ai oán.

Lựa chọn đáp án đúng:

Câu 1: Đoạn trích “Xúy Vân giả dại” kể về việc:

a. Xúy Vân giả dại buộc Kim Nham phải trả nàng về nhà để đi theo Trần Phương.

b. Xúy Vân đau khổ vì bị Trần Phương lừa gạt nàng trở nên điên dại thật

c. Xúy Vân vì không chịu nổi cảnh xa chồng nên nàng giả điên dại

d. Xúy Vân vì thương nhớ chồng trở nên điên dại

Câu 2: Điều gì đã tạo nên mâu thuẫn trong tâm trạng của Xúy Vân trong đoạn trích ?

A. khát vọng giữa tình yêu và đạo đức

B. khát vọng giữa tình yêu và thực tại

C. khát vọng giữa tình yêu và cuộc sống.

D. Cả A và B

Câu 3: Nét đặc biệt của chèo cổ là gì?

a. Kết hợp giữa ba hình thức: dân ca, dân nhạc, dân vũ.

b. Kịch bản của chèo thường lấy từ tích cũ.

c. Sân khấu ở những sân đình.

d. Sự kết hợp giữa ca, múa, và lời nói

Câu 4: Phong cách biểu diễn của chèo thường mang tính:

a. Cụ thể b. Nhân hóa c. Tượng trưng d. Ước lệ

Câu 5: Nguyên nhân bi kịch của cuộc đời Xúy Vân là do:

A. Cha mẹ ép duyên

B. Do Kim Nhan không yêu thương nàng

C. Do bị Trần Phương lừa dối tình cảm

D. Chế độ phong kiến với chế độ hôn nhân “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” cùng lễ giáo phong kiến khắt khe kiềm toả khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của con người.

Câu 6: Những câu hát “bông bông dắt, bông bông díu – xa xa lắc, xa xa líu” là những câu :

A. vô nghĩa, Xúy Vân hát để giả điên

B. thể hiện cuộc sống vợ chồng của nàng

C. đệm thêm cho lời hát có vần, có điệu.

D. chỉ là lời của bài hát, không có ý nghĩa gì.

Câu 7: Trong những ý sau, điều nào không thể hiện được nhân vật Xúy Vân đáng thương?

a. Cuộc hôn nhân do cha mẹ sắp đặt vội vàng, không có tình yêu.

b. Gặp Trần Phương, Xúy Vân tưởng gặp người tri kỉ cô đã yêu Trần Phương.

c. Xúy Vân là cô gái đảm đang khéo léo, có mơ ước giản dị

d. Xúy Vân giả điên để theo Trần Phương.

Trả lời câu hỏi/ Thực hiện yêu cầu:

Câu 8. Chỉ ra các chỉ dẫn sân khấu có trong đoạn trích trên.

Câu 9. Trong lời xưng danh, Xuý Vân kể điều gì về bản thân? Qua đoạn xưng danh, có thể nhận ra những đặc điểm gì của sân khấu chèo?

Câu 10. Theo em, Xuý Vân đáng thương hay đáng trách? Hãy câu trả lời trong đoạn văn ngắn (khoảng 3 – 5 câu).

II. Viết (4,0 điểm)

Viết bài văn nghị luận trình bày ý kiến của anh/ chị về quan điểm hãy sống là chính mình.

Kết luận

Hy vọng với các giải đáp trên thì mong là quý độc giả đã biết được cách ”  soạn bài kiểm tra văn học lớp 10″ chuẩn và chính xác nhất hiện nay. Các thông tin trên được admin cập nhật cũng như thu thập thông tin từ nhiều nguồn chuẩn xác, hy vọng các bạn sẽ thích và ủng hộ cho Chamhocbai.com.

Bài viết đã được cập nhật mới nhất vào 02/2024!