Updated at: 08-05-2023 - By: Thầy Vũ Xuân Anh

Admin Chăm Học Bài hôm nay sẽ hướng dẫn các bạn cách giới thiệu về đá ở Hà Giang chuẩn nhất 02/2024.

Giới thiệu về đá ở Hà Giang- Mẫu 1

Mùi rượu ngô gay gắt của những quán nhỏ ven đường như muốn níu kéo chúng tôi lại và dù đã vượt qua rất xa, vẫn có cảm giác nó ở quanh mình. Phải chăng hơi rượu đã thấm đẫm vào không gian, đánh bạt đi lam sơn, chướng khí của miền đất dữ để tiếp thêm sức mạnh cho người khách bộ hành?

Nếu được đứng trên triền núi ngắm những buổi hoàng hôn mênh mông nắng vồng hay đêm nằm run rẩy trong cái tịch mịch của rừng đá, mới thấy hết được ý nghĩa của cuộc sống nơi hoang vu, khi con người trở nên quá bé nhỏ trước sự hùng vĩ của thiên nhiên, ở nơi thâm sơn cùng cốc này, rượu ngô là thứ đồ uống chính của đồng bào dân tộc. Ăn có thể thiếu, mặc có thể không đủ nhưng rượu ngô luôn phải đầy bình. Rượu ngô uống cùng ớt ngâm, rượu ngô hòa vào bát cơm gạo hẩm, lùa vội hai miếng cho qua bữa… thế nhưng, không phải lúc nào người H’Mông ở Đồng Văn cũng có cơm ăn. Sống trên đá, nguồn nước không có, họ chi có thể trồng ngô thôi chứ lấy đâu ra gạo. Ngô, cũng chỉ chế biến được thành món bánh mèn mén mà thôi. Người dân nơi đây có câu: Sống trên đá, chết vùi trong đá. Thế giới của người H’Mông ở Hà Giang thật đơn sơ, nói chỉ là đá, là rừng và nhiều khi sinh khí nhất là những nương ngô xanh rờn. Một quả núi lớn được chia theo từng hộ dân để canh tác. Đá núi mấp mô, nhọn hoắt, đâm thủng chán người, vậy mà họ đào được hố, được hốc rồi tra hạt, tỉa bắp. Bò kéo cày, có khi chỉ được vài bước chân đã phải quay đầu, vì nương nhỏ quá, đá xanh rắn quá. Đúng là dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần.

Sống trên độ cao 1200m so với mặt nước biển, nguồn nước sinh hoạt của người H’Mông dựa hoàn toàn vào thiện ý của ông trời. Năm nào ông cho mưa nhiều thì người dân bớt khổ, chứ năm nào nắng to thì dù có sức người, sỏi đá cũng thành ngô. Đồng Văn không hề có suối và nước mạch như các vùng núi khác, đá xanh Hà Giang lại nổi tiếng cứng hơn cả đá trắng Ninh Bình nên cũng không thể nào khoan giếng để trữ nước được. Sau mỗi cơn mưa, nước ở lại trong các hốc đá tai mèo và người dân phải đập đá để tạo ra dòng chảy về một hốc đá lớn với trữ lượng khoảng 100 lít. Những nhà ở xa hốc nước cũng phải mất cả ngày trời mới mang được can nước về, mà cũng vơi đi rất nhiều, vì họ phải uống trên đường đi. Nhà nào khá giả còn có ngựa thồ nước, chứ nhà nghèo chỉ biết dùng chính sức khoẻ của mình mà cõng nước về. Nước chảy đá mòn, thế nhưng những giọt mồ hôi của người H’Mông nhỏ xuống không đủ thấm vào lòng đá, không làm cho đá mòn đi mà trái lại, dường như nó còn mài sắc thêm những cạnh đá để cào nát đôi chân trần của những người quanh năm sống cảnh bán mặt cho đá, bán lưng cho trời.

Vùng đá tai mèo đã tạo cho người dân nơi đây tính cách thật dữ dội, nhưng cũng vô cùng chân thật. Dù khó, dù khổ đến mấy nhưng hiếm khi nụ cười tắt trên đôi môi họ. Một bữa ăn, một đêm ngủ trong căn nhà trống trải tường đá tỏa hơi lạnh buốt, một buổi len lỏi trên những con đường trải đá tới nương ngô nằm ở lưng chừng núi cũng đủ cho bạn quyến luyến vùng đất này. Mọi người dân nơi đây ngay từ lúc sinh ra đã được đá tôi luyện, đá chính là cuộc sống của họ, còn đá thì còn họ, sức sống của họ là sức sống của đá. Những sinh linh tồn tại một cách hoang dã trong thế giới của đá là hình ảnh đẹp nhất của ý chí con người quyết chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt để hướng tới một cuộc sống tươi đẹp hơn.

Giới thiệu về đá ở Hà Giang- Mẫu 2

Hà Giang là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. Phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng, phía Tây giáp tỉnh Yên Bái và Lào Cai, phía Nam giáp tỉnh Tuyên Quang phía Bắc giáp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Hà Giang có diện tích tự nhiên là 7.884,37 km2, trong đó theo đường chim bay, chỗ rộng nhất từ tây sang đông dài 115 km và từ bắc xuống nam dài 137 km. Tại điểm cực bắc của lãnh thổ Hà Giang, cũng là điểm cực bắc của Tổ quốc.

Vào thời Hùng Vương, mảnh đất Hà Giang đã là một trong 15 bộ của quốc gia Lạc Việt. Thời Thục Phán An Dương Vương lập nước Âu Lạc, Hà Giang thuộc bộ lạc Tây Vu. Trong thời kỳ đô hộ của phong kiến phương Bắc kéo dài nghìn năm, khu vực Hà Giang vẫn nằm trong địa phận huyện Tây Vu thuộc quận Giao Chỉ. Từ năm 1075 (đời nhà Lý). Miền đất Hà Giang lúc đó thuộc về châu Bình Nguyên. Địa danh Hà Giang lần đầu tiên được nhắc đến trong bài minh khắc trên chuông chùa Sùng Khánh (xã Đạo Đức, Vị Xuyên), được đúc nhân dịp trùng tu chùa vào đầu thời Vua Lê Dụ Tông, năm Ất Dậu 1707.

Hà Giang được thiên nhiên ưu đãi với nền văn hoá lâu đời thuộc niên đại đồ đồng Đông Sơn, có các di tích người tiền sử ở Bắc Mê, Mèo Vạc. Đây cũng là tỉnh có nhiều đồng bào dân tộc thuộc vùng Đông Bắc sinh sống, với 22 dân tộc có nhiều phong tục tập quán, văn hoá truyền thống và những lễ hội rất sinh động đã làm Hà Giang trở thành nơi hấp dẫn du khách đến tham quan

Bên cạnh đó, Hà Giang có cảnh quan môi trường độc đáo của một tỉnh miền núi với những dãy núi cao đá tai mèo ở phía bắc và những cánh rừng bạt ngàn ở phía nam. Năm 2010 Công viên địa chất Cao nguyên đá Đồng Văn (CVĐC CNĐĐV) được UNESCO công nhận là thành viên của mạng lưới CVĐC toàn cầu ; Tháng 9 năm 2012 Ruộng bậc thang Hoàng Su Phì đã được công nhận là Di tích quốc gia Ruộng bậc thang Hoàng Su Phì.

Hà Giang có diện tích rừng tương đối lớn, với nhiều sản vật quý hiếm: động vật có các loài gấu ngựa, sơn dương, voọc bạc má, gà lôi, đại bàng…; các loại gỗ: ngọc am, pơ mu, lát hoa, lát chun, đinh, nghiến, trò chỉ, thông đá…; các cây dược liệu như sa nhân, thảo quả, quế, huyền sâm, đỗ trọng… Rừng Hà Giang không những giữ vai trò bảo vệ môi trường sinh thái đầu nguồn cho vùng đồng bằng Bắc Bộ mà còn cung cấp những nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất công nghiệp, xây dựng, y tế và sẽ là những điểm du lịch sinh thái lý tưởng của tỉnh.

Với mạng lưới sông suối luồn lách qua những đồi núi thấp hình thành những hồ lớn vào mùa mưa tạo ra những điểm du lịch hấp dẫn như hồ Noong. Do có nhiều núi đá vôi nên trong tỉnh có nhiều suối nước nóng là những địa điểm du lịch lý tưởng. Hà Giang có nhiều di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh ít nơi có được như : Suối Tiên, cổng Trời, thác nước Quảng Ngần, khu Nậm Má, khu chum vàng, chum bạc và di tích nhà họ Vương… Đặc biệt là Công viên địa chất Cao nguyên đá Đồng Văn và Ruộng bậc thang Hoàng Su Phí.

Một thế mạnh khác của Hà Giang là việc khai thác du lịch quá cảnh sang tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), quan hệ du lịch và thương mại hai chiều nếu được mở ra sẽ góp phần đáng kể và sự tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Hà Giang có điều kiện khí hậu tốt và nhiều cảnh đẹp, suối nước nóng,… để phát triển du lịch quá cảnh. Đây là ngành then chốt trong phát triển kinh tế của địa phương.

Hà Giang là tỉnh miền núi được thiên nhiên ưu đãi với nhiều thắng cảnh đẹp níu chân du khách thập phương.

Giới thiệu về đá ở Hà Giang- Mẫu 3

Nằm ở cực Bắc – vùng phên giậu của Tổ quốc, thành phố Hà Giang không chỉ sở hữu cảnh quan thiên nhiên hoang sơ, kỳ vĩ cùng sự đa dạng văn hóa mà còn được biết đến như một trong những địa phương phát triển du lịch khá bài bản. Điều đó đã tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt, khiến du khách muốn quay lại vùng đất này nhiều lần.

Là Trung tâm chính trị, kinh tế – văn hóa – xã hội của tỉnh Hà Giang, thành phố Hà Giang luôn tự hào với sự phát triển vượt bậc của mình trong hành trình phát triển, vươn lên từ một thành phố trẻ. Thành phố nằm hai bên bờ con sông Lô với các dãy phố nhà cao tầng mọc lên san sát. Đường nội thị Nguyễn Trãi, Trần Phú, Trần Hưng Đạo… được trải nhựa áp phan mịn màng. Bên bờ Đông sông Lô là núi mỏ Neo, bên bờ Tây sông Lô là núi Cấm Sơn sừng sững đối xứng như hai ngọn tháp vươn lên trời xanh…

Nhắc đến Hà Giang, có lẽ bất cứ người Việt nào cũng mong muốn được một lần đặt chân tới, để được đứng dưới lá cờ Tổ quốc thiêng liêng tung bay trên cột cờ Lũng Cú, nơi mà theo sử sách Lý Thường Kiệt đã lần đầu tiên đánh dấu chủ quyền lãnh thổ bằng một cây sa mộc. Năm 2010, Cột cờ Lũng Cú được đầu tư xây dựng quy mô, nằm ở độ cao 1.400m so với mực nước biển, có hình bát giác, cao hơn 30m, diện tích 54m², đại diện cho 54 dân tộc anh em.

Đến với Hà Giang, du khách không thể không đến với cao nguyên đá Đồng Văn, nơi được UNESCO công nhận là Công viên địa chất toàn cầu. Nằm ở độ cao 1.000 – 1.600m so với mực nước biển, có diện tích 2.356km², trải dài qua địa bàn 4 huyện Quản Bạ, Yên Minh, Mèo Vạc và Đồng Văn, đây là nơi hội tụ nhiều di tích lịch sử nổi tiếng như Quần thể di tích lịch sử – danh thắng Lũng Cú, Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia nhà Vương, Phố cổ Đồng Văn, Bãi đá cổ, di chỉ khảo cổ… Đây cũng là nơi có các thắng cảnh hùng vĩ như sông Nho Quế, Mã Pì Lèng – “Thiên hạ đệ nhất đèo”, hẻm Tu Sản – hẻm vực sâu nhất Đông Nam Á với độ sâu 700 – 900m.

Không chỉ sở hữu thế mạnh về cảnh quan thiên nhiên, Hà Giang còn là vùng đất đậm đặc văn hóa với những lễ hội đặc sắc diễn ra quanh năm như tháng Giêng có hội Lồng Tồng của người Tày, hội Gầu Tào của người Mông; tháng 3 với chợ tình Khau Vai; tháng 5 có Lễ thần rừng của người Lô Lô; tháng 7 đi hội Khu Cù Tê của người La Chí; tháng 9 có Tết cá của người Tày; tháng 10 đi hội Nhảy lửa của người Pà Thẻn; tháng 11 là Lễ hội hoa tam giác mạch…

Trong thời gian sắp tới, thành phố Hà Giang sẽ ngày càng phát triển, xứng danh miền đất địa đầu của Tổ quốc Việt Nam. Với những tiềm năng, lợi thế của mảnh đất địa đầu tổ quốc, đây là một điểm đến hấp dẫn trong lòng du khách.

Giới thiệu về đá ở Hà Giang- Mẫu 4

Hà Giang, nơi địa đầu của Tổ Quốc, vốn là điểm du lịch hấp dẫn bởi những cung đường uốn lượn đến say lòng và những cảnh đẹp hùng vĩ. Một trong những bản sắc riêng làm nên sức hấp dẫn của du lịch Hà Giang chính là giá trị văn hóa truyền thống. Cộng đồng dân cư ở đây không chỉ là chủ thể tạo nên các sản phẩm du lịch mà còn luôn giữ gìn, bảo tồn các giá trị tự nhiên và nhân văn được khai thác phục vụ cho du lịch.

Các sản phẩm du lịch tại Hà Giang cũng được phát triển theo hướng đa dạng, phong phú và hấp dẫn; đặc biệt là khắc phục được tính mùa vụ bằng cách xây dựng sản phẩm du lịch trải đều 4 mùa trong năm. Mùa xuân Hà Giang rực rỡ với sắc hoa đào, lê, mận; mùa hè trải nghiệm ruộng bậc thang mùa nước đổ, về thăm chiến trường xưa gắn với mặt trận Vị Xuyên. Mùa thu du khách được nhìn ngắm lúa chín vàng trên ruộng bậc thang, chinh phục núi cao, săn mây đỉnh Chiêu Lầu Thi. Mùa đông của Hà Giang nổi tiếng với bạt ngàn sắc hoa tam giác mạch…

Nhiều điểm đến của Hà Giang cũng được khai thác du lịch quanh năm, nổi bật là các làng văn hóa du lịch cộng đồng, cảnh đẹp núi Cô Tiên – Quản Bạ, hang Lùng Khúy, di tích kiến trúc nghệ thuật nhà Vương, cột cờ Lũng Cú, du thuyền trên dòng Nho Quế… Bên cạnh đó, Hà Giang thường xuyên tổ chức các hoạt động thể thao thu hút khách du lịch như giải chạy marathon trên con đường Hạnh Phúc, giải đua xe địa hình, bay dù lượn trên mùa vàng, khám phá hệ thống hang động…

Hà Giang còn là bốn mùa của lễ hội. Tháng Giêng đi hội Lồng Tồng của người Tày, hội Gầu Tào của người Mông, tháng Hai đi Hội Khèn Mông, tháng Ba đi hội chợ tình Khau Vai, tháng Năm đi lễ Thần Rừng của người Lô Lô, tháng Bảy đi hội Khu Cù Tê của người La Chí, tháng Tám hội đua thuyền, tháng Mười đi hội nhảy lửa, hội dệt thổ cẩm, tháng Mười một đi hội hoa tam giác mạch…

Truyền thống văn hóa đậm đà bản sắc của các dân tộc (trang phục, kiến trúc nhà truyền thống, tập quán, phương thức canh tác…) cũng là một trải nghiệm không thể thiếu khi du khách đến với Hà Giang vào các mùa trong năm. Các món ăn truyền thống của các dân tộc vùng cao cũng được nâng tầm thành các sản phẩm văn hóa ẩm thực đa dạng, độc đáo phục vụ du khách. Các sản phẩm đặc sản như cam sành Bắc Quang – Vị Xuyên, hồng không hạt Quản Bạ, lê trên cao nguyên đá, mật ong bạc hà, trà shan tuyết cổ thụ, bánh trưng gù… được đưa vào phục vụ du lịch.

Với những trải nghiệm đa dạng và phong phú, vùng đất Hà Giang đã để lại nhiều ấn tượng khó phai đối với mỗi du khách đến với nơi đây.

Giới thiệu về đá ở Hà Giang- Mẫu 5

Dinh họ Vương hay còn gọi là Dinh Vua Mèo Vương Chính Đức ở xã Sà Phìn, huyện Đồng Văn, là công trình kiến trúc đặc sắc bậc nhất của tỉnh Hà Giang. Cụ Vương Chính Đức (1865 – 1947) là người duy nhất được đồng bào dân tộc Mông suy tôn là Vua Mèo. Dinh họ Vương hay còn gọi là Dinh Vua Mèo Vương Chính Đức, dinh thự này được Nhà nước công nhận là Di tích quốc gia năm 1993.

Trước đây, Vua Mèo Vương Chính Đức cai quản các khu Quản Bạ, Yên Ninh, Mèo Vạc, Đồng Văn, và đây cũng là khu tự trị của người dân tộc Mông ở tỉnh Hà Giang. Gần 100 năm trước, ông Vương Chính Đức đã thuê thợ từ Trung Quốc sang thi công Dinh họ Vương. Hàng vạn nhân công Việt Nam cũng tham gia xây dựng Dinh Vua Mèo, chi phí xây dựng dinh thự rất lớn không thống kê được. Chỉ tính riêng tiền công thuê thợ đã tốn 15 vạn đồng bạc Đông Dương, lập kỷ lục thời đó ở tỉnh Hà Giang.

Đứng ở trên đỉnh cao nhìn xuống, Dinh họ Vương như hình mai rùa, nổi bật, bề thế giữa thung lũng Sà Phìn. Dinh được thiết kế như một pháo đài kiên cố, bao quanh Dinh thự là một dải núi cao, tạo nên địa thế hình vòng cung ôm trọn toàn bộ khu nhà. Bên trong là một khối kiến trúc đồ sộ tiêu biểu cho một dòng họ vương giả vùng cao với những dãy nhà 2 tầng ngang, dọc nối tiếp nhau như những dãy núi trùng trùng điệp điệp trên cao nguyên đá. Ngoài Dinh có 2 lô cốt để phòng thủ, các lăng mộ con, cháu cụ Vương Chính Đức.

Trong Dinh có kho chứa vũ khí, kho cất giữ vàng, bạc, tiền, kho thuốc phiện, các nhà ở, làm việc, khu bếp, khu nuôi gia súc, gia cầm… Bao quanh Dinh là vườn cây trái sum xuê và các loại hoa rực rõ, tô điểm thêm vẻ đẹp của Dinh thự. Nét đặc sắc của dinh Vua Mèo nằm ở cấu trúc và cách bố trí các phòng ở và làm việc, mô phỏng một thành quách thu nhỏ. Các họa tiết bằng đá, gỗ của Dinh được chạm khắc tinh xảo, bắt mắt, biểu tượng cho sự giàu sang, quyền quý

Chị Vương Thị Chở cho biết: “Khu nhà cụ Vương Chính Đức được xây dựng năm 1898 hoàn thành năm 1903. Ngôi nhà có tất cả 64 phòng ở được tính theo 64 quẻ hình bát quái. Dinh thự gồm 3 khu tiền dinh, trung dinh và hậu dinh. Tiền dinh là nơi ở là phòng lính bảo vệ, Trung Dinh là nơi ở của vợ và các con còn hậu Dinh là nơi ở Vua Mèo Vương Chính Đức. Ngôi nhà cụ Vương được tu sửa lại năm 2004. Tường, ngói, đá… vẫn được giữ nguyên hiện trạng từ xưa đến nay. Gỗ là gỗ lim thay cho gỗ thông đá trước đây. Tính ra 40% gỗ là mới, còn lại 60% vẫn còn nguyên vẹn từ trước đến nay.”

Năm 2004, gia đình họ Vương quyết định trao tặng Dinh họ Vương cho Nhà nước bảo tồn. Kể từ đó, nơi đây trở thành địa điểm tham quan cho khách du lịch. Đến tỉnh Hà Giang, du khách không thể bỏ qua điểm tham quan thú vị này. Khám phá Dinh họ Vương, thăm chợ phiên ở trước Dinh thự rồi từ điểm dừng chân này, du khách có thể dễ dàng, thuận tiện tham quan các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử ở tỉnh Hà Giang.

Giới thiệu về đá ở Hà Giang- Mẫu 6

Nép mình giữa cao nguyên đá Hà Giang, thung lũng Sủng Là mang nét đẹp nên thơ và bình yên. Một lần được đặt chân tới, khám phá một Sủng Là đẹp đến ngất ngây người, chẳng thua kém gì chốn thần tiên quả là một trải nghiệm khó quên trong chuyến du lịch về chốn “ốc đảo” này.

Thung lũng Sủng Là là xã đẹp nhất của Hà Giang, được ví như “ốc đảo” nằm yên bình giữa lòng cao nguyên đá. Sủng Là gây ấn tượng đặc sắc với du khách với những nét văn hoá độc đáo của đồng bào dân tộc nơi đây. Ở Sủng Là có làng Lũng Cẩm, nơi sinh sống hơn 60 hộ gia đình của các dân tộc như người Hán, người Mông, người Lô Lô… Du khách tới đây được tận mắt chứng kiến những nét đẹp vẫn còn nguyên vẹn trong đời sống của các đồng bào như dệt lanh, đèo gùi đi lấy rau, địu con…

Để đến được Sủng Là, du khách xuất phát tại Hà Nội, đón xe khách lên Hà Giang. Sau khi đã tới nơi, bạn có thể thuê xe máy vi vu mọi góc ngách ở Sủng Là. Còn nếu bạn là người ưa phượt, thích mạo hiểm, muốn khám phá những cung đường đèo ngoạn mục, thì có thể leo lên “chiếc ngựa sắt” để ngao du quả là một ý tưởng không chê vào đâu được.

Vào mỗi mùa trong năm, thung lũng Sủng Là tựa như bức tranh thiên nhiên đa màu sắc. Trong đó, mùa xuân được xem là thời điểm đẹp nhất ở ốc đảo này, hoa nở muôn nơi mang tới một khung cảnh trở nên thơ mộng hơn bao giờ hết. Cũng có lẽ vì điều này mà nhiều người mến tặng cho Sủng Là một tên gọi thật trìu mến, đó là “đoá hoa hồng” trên cao nguyên đá.

Nghe tới đây, mọi người có vẻ nghĩ đã quá cường điệu bởi Sủng Là chỉ toàn là đá nhọn hoắt, lởm chởm, chĩa ngược lên trời xanh. Nhưng sự thật, đằng sau sự hiểm trở của núi rừng Tây Bắc ấy, sự khắc nghiệt về địa hình đã làm cho người dân nơi đây phải “gồng” mình chống chọi lại. Người dân biến núi non thành hoa, lúa, ngô… phục vụ cuộc sống thường ngày, tới đây quả là khâm phục đức tính của người dân vùng cao, chịu khó vô cùng.

Đến với Sủng Là, bạn được lạc lối vào khung cảnh đầy sắc màu tựa như chốn cổ tích thần tiên. Những tấm khăn đầy màu sắc sặc sỡ được khoác trên người của đồng bào dân tộc Lô Lô, H’mông, Dao… Du khách còn cảm nhận sự dung dị, chân phương đầy chân tình của đồng bào đối đãi với những kẽ lữ hành đầy yêu thương.

Đến với Sủng Là vào dịp cuối tuần, bạn được hoà mình vào không gian chợ phiên. Trước khung cảnh đất trời mênh mang, bạn sẽ không khỏi ngẩn ngơ trước quang cảnh những người Mông bản địa dắt ngựa thồ hàng trên những dải đá tai mèo. Hay thấp thoáng đâu đó nghe tiếng khèn của các chàng trai Mông say sưa gọi bạn tình. Những cô gái bản địa sặc sỡ trong trang phục đầy những hoạt tiết trang trí. Khung cảnh này làm cho kẽ lữ hành muốn hoà nhập ngay lập tức để trải nghiệm những điều thú vị đầy hấp dẫn.

Mặc dù nằm cheo leo trên những triền núi cao, mây xanh phủ quanh núi, cảnh sắc ở Sủng Là làm cho người ta thật sự mơ mộng. Hãy đến một lần để cảm nhận hết vẻ đẹp bình yên, nên thơ đầy màu sắc nơi núi rừng Tây Bắc để ta thêm yêu những điều giản dị nhất của cuộc sống.

Cho dù đời sống người dân ở thung lũng Sủng Là vẫn còn nhiều khó khăn, vất vả nhưng lúc nào họ cũng nở nụ cười trên môi. Một lần được đặt chân tới đây, con người ta sẽ cảm nhận sự thư giãn, cảnh vật thật thanh bình và yên ả. Trong chuyến hành trình của mình, sao bạn không thử trải nghiệm mảnh đất đầy điều thú vị này, đang sẵn sàng dang tay chào đón bạn bất cứ lúc nào.

Giới thiệu về đá ở Hà Giang- Mẫu 7

Với những nét đặc trưng vốn có, với vẻ đẹp trong nền văn hóa truyền thống đa sắc màu, phố cổ Đồng Văn đã tạo nên điểm nhấn ấn tượng và độc đáo trên vùng cao nguyên đá Đồng Văn.

Phố cổ Đồng Văn nằm ở thị trấn Đồng Văn, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang. Khu vực trung tâm thị trấn Đồng Văn xưa thuộc tổng Đông Quan, châu Nguyên Bình, phủ Tường Vân, tỉnh Tuyên Quang và có lịch sử phát triển về kiến trúc, văn hóa hàng trăm năm. Khi mới hình thành, đầu thế kỉ 20, khu phố cổ này chỉ gồm vài gia đình người Mông, Tày, Hoa sinh sống. Khi vào đây chiếm đóng, người Pháp đã có những quy hoạch và để lại những điểm nhấn quan trọng về quy hoạch và kiến trúc, đặc biệt là chợ Đồng Văn, xây bằng đá trong những năm 1920 gần như còn nguyên vẹn đến ngày nay.

Nằm lọt thỏm giữa thung lũng với bốn bề núi đá bao bọc, khu phố cổ vẻn vẹn 40 nóc nhà nằm xếp vào nhau. Những ngôi nhà cổ này đều có tuổi đời trên dưới 100 năm, cá biệt có những ngôi nhà gần 200 năm.. Phố cổ và chợ cổ Đồng văn mang đậm nét đặc trưng với tường nhà rất dày bằng đá, hàng cột lớn, nhà xây một hoặc hai tầng mái lợp ngói trên những kết cấu vì kèo bằng gỗ chắc chắn. Nhìn tổng thể, khu phố cổ mang đậm dấu ấn kiến trúc của người Hoa với những ngôi nhà hai tầng lợp ngói âm dương, những chiếc đèn lồng đỏ treo cao xua đi cái lạnh buốt khắc nghiệt của Cao nguyên đá.

Bức tranh về khu phố cố được thể hiện trên nhiều gam màu, thay đổi theo từng cung bậc thời gian trong một ngày. Buổi sáng, bức tranh độc đáo ấy được pha trộn tài tình bởi hai tông màu vàng rực của nắng và màu xám của những ngôi nhà cổ. Không gian im lìm trong sương sớm như được đánh thức bởi ánh sáng, âm thanh náo nhiệt và những sắc màu rực rỡ trong trang phục của đồng bào người Mông, Hoa, Ráy, Tày, Nùng…

Khi trời đất ngả chiều, sự yên bình cố hữu lại bao trùm khu phố cổ giữa lòng Cao nguyên đá. Đêm đến ánh đèn dầu từ mỗi chiếc bàn chỉ đủ soi lờ mờ. Trong không gian ấy đôi khi có tiếng kèn môi của chàng trai Mông trong giai điệu gọi bạn tình. Vào đêm cuối tuần, quán cà phê phố cổ lại rộn ràng với những chàng trai, cô gái từ các bản được chủ quán mời về hát những bài dân ca, thể hiện những điệu múa giao duyên.

Từ trên cao nhìn xuống, bên hai dãy phố cổ chạy vào chân núi là ba dãy chợ xếp thành hình chữ U lợp ngói âm dương. Kiến trúc ở đây phổ biến là nhà hai tầng trình tường, lợp ngói âm dương .Trước đây, người dân phố cổ (chỉ khoảng 40 hộ) đều buôn bán ở đây. Chợ phiên Đồng văn họp vào các Chủ Nhật hàng tuần. Vì vậy mà cứ các tối thứ 7 trước phiên chợ, từng đôi trai gái người Mông, Dao, Giấy… lại đưa nhau về đây dạo chơi, thổi khèn uống rượu và hát múa; vào mùa đông khí hậu khắc nghiệt, từng nhóm thanh niên đốt lửa và quây quần bến đống lửa.

Từ năm 2006, huyện Đồng Văn đã tổ chức “Đêm phố cổ” vào các ngày 14, 15, 16 âm lịch hàng tháng. Trong “Đêm phố cổ” các hộ dân trong khu phố cổ đồng loạt treo đèn lồng đỏ; đồng thời tổ chức một số hoạt động mang đậm bản sắc khác như trưng bày thổ cẩm các dân tộc, trình diễn và bày bán các món ăn truyền thống của các dân tộc với kỳ vọng thu hút khách du lịch giống như cách người Hội An đã làm.

Hiện nay những ngôi nhà ở khu phố cổ đã cũ nát, xuống cấp, nhiều nhà mới với lối kiến trúc nhà ống mọc lên phá vỡ nghiêm trọng lối kiến trúc cổ. Du lịch tại thị trấn Đồng Văn vẫn giữ được những giá trị văn hóa truyền thống, chưa bị thương mại hóa. Vấn đề đặt ra trước mắt cho chính quyền địa phương là phải bảo tồn khu phố cổ vốn rất dễ bị tổn thương, trên cơ sở phát huy các hoạt động mang bản sắc truyền thống.

Giới thiệu về đá ở Hà Giang- Mẫu 8

Cách thành phố Hà Giang khoảng chừng 2km, bản Tha của người Tày là một thắng cảnh đẹp hút hồn những du khách phương xa. Bản Tha là một làng quê miền sơn cước mang vẻ đẹp thanh bình, yên ả với những nếp nhà sàn mộc mạc, cùng ruộng lúa, hàng tre xanh tốt và những nét đặc trưng của đồng bào dân tộc Tày ở Hà Giang. Đến bản Tha, du khách muốn giao lưu và tìm hiểu nếp sống, văn hóa của người dân bản địa thì nên chọn dịch vụ Homestay. Đừng bỏ lỡ bản Tha khi bạn đến với Hà Giang.

Đối lập với những bản làng nép mình bên sườn núi đá tai mèo hùng vĩ, đâu đâu chỉ thấy đá, bản Tha tựa như mảnh khăn voan mềm mại xanh mướt màu của ruộng lúa, những vườn cọ. Bản Tha yên ả, không tiếng nhạc, tiếng xe cộ, bước chân vào đầu bản, chỉ có tiếng của dòng nước trong veo chảy róc rách ngày đêm dưới những con mương nhỏ như lời mời chào du khách đã đến với bản Tha. Phía xa xa là những dãy núi trùng điệp, bản Tha quanh năm bảng lảng màn sương trắng, điểm tô cảnh sắc mây trời và những thảm rừng xanh ngát. Thỉnh thoảng có vài người khách với dáng vẻ thảnh thơi, ung dung dạo bộ men theo bờ ruộng và thi thoảng dừng chân mê mải ghi hình.

Bản Tha đẹp bởi đây là một làng văn hóa vẫn còn giữ nguyên những giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Tày ở Hà Giang. Nổi bật là những ngôi nhà sàn còn gần như nguyên vẹn. Chỉ cách thành phố Hà Giang một quãng đường ngắn nhưng bản Tha dường như là một thế giới khác. Một thế giới không có nhà cao tầng, có xe cộ nườm nượm. Hỏi bất kỳ người dân nào trong làng, từ già cho đến trẻ về việc sao không xây nhà bê tông cho tiện thì đều nhận được chung một câu trả lời rằng nhà sàn là bản sắc dân tộc của mình thì không bỏ được và vẫn phải duy trì.

Dạo một vòng quanh bản Tha, tận hưởng bầu không khí trong lành, du khách mới thấy và cảm nhận trọn vẹn những nét duyên riêng có nơi đây. Các gia đình người Tày ở đây hiếu khách và luôn sẵn lòng đón những người khách phương xa vào nhà chơi. Chỉ một chén trà, quan trọng hơn đó là nụ cười tươi hay một cái nhìn trìu mến của gia chủ cũng đủ để bước chân du khách thêm bịn rịn. Người Tày ở bản Tha còn lưu giữ nghề dệt thổ cẩm truyền thống và làm ra những sản phẩm như túi, khăn, quần áo nên du khách còn có dịp tìm hiểu, quan sát, thậm chí còn được hướng dẫn làm thử.

Bản Tha có gần chục ngôi nhà sàn rộng đẹp, tiện nghi, màn chăn chiếu giản dị nhưng luôn được giặt sạch sẽ. Ở trong gia đình người Tày, du khách được thưởng thức những món ăn đặc sản như: cá bỗng nấu măng chua, gà đồi xé phay trộn gỏi, lợn đen nướng ống tre cuốn với rau rừng cùng rượu ngô say đắm. Người Tày nấu ăn rất ngon, thực phẩm nuôi trồng tự nhiên, gạo dẻo và thơm. Bữa ăn ở bản Tha, quây quần trong gian nhà sàn ấm cúng, tuy đơn sơ mà hấp dẫn du khách đến lạ kỳ.

Khách du lịch đến đây thì sẽ được tiếp đón giống như phong tục của người Tày. Giữ được bản sắc dân tộc Tày và không bao giờ mất được. Người tày mổ lợn, mổ gà. Làm món ăn truyền thống như thịt nướng, áp chao, nem. Món thịt nướng là món đặc trưng của người Tày, thường làm vào ngày lễ tết, dịp nhà mới. Làm món này cầu kỳ vì phải ướp nhiều gia vị như thảo quả, hạt dổi, hạt tiêu, nghệ, mắm tôm.

Khi màn đêm buông xuống, du khách được dịp hòa mình vào lời ca, tiếng đàn của những chàng trai cô gái người Tày. Đây là dịp đặc biệt để những người khách phương xa có cơ hội biết đến những làn điệu dân ca truyền thống được người Tày gìn giữ qua nhiều thế hệ. Đặc sắc nhất là hát then, lối hát cầu mùa, cầu duyên, hát xen với múa, diễn sinh động, người đánh đàn tính sẽ tùy hứng bổng trầm, nhẹ nhàng, xôn xao theo người diễn và du khách thì đung đưa theo tiếng đàn, tiếng hát.

Vẻ đẹp dịu dàng bình yên của bản Tha, quanh năm bảng lảng màn sương trắng và điểm tô những thảm rừng xanh ngát, cùng sự thân thiện mến khách và những nét văn hóa đặc sắc của người Tày đã để lại trong lòng du khách những ấn tượng khó phai trong hành trình khám phá vùng đất Hà Giang.

Giới thiệu về đá ở Hà Giang- Mẫu 8

Hà Giang nổi tiếng với các di sản gắn liền với lịch sử giữ nước của dân tộc. Trong đó, phải kể đến di tích cột cờ Lũng Cú, một trong những cột cờ thiêng liêng bậc nhất của nước ta. Có thể khẳng định rằng di tích này đã tồn tại cùng với sự hình thành dải đất thiêng liêng hình chữ S của Việt Nam, là niềm tự hào của dân tộc trong công cuộc giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ.

Cột cờ Lũng Cú là một cột cờ quốc gia nằm ở đỉnh Lũng Cú hay còn gọi là đỉnh núi Rồng (Long Sơn) có độ cao khoảng 1.470 m so với mực nước biển, thuộc xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang, nơi Đài vọng cảnh cực Bắc Việt Nam,cách cực Bắc Việt Nam khoảng 3,3 km theo đường thẳng. Từ trên đỉnh cột cờ nhìn xuống đất có 02 ao nước hai bên núi quanh năm không bao giờ cạn nước được gọi là mắt rồng, là nguồn nước cho người dân tộc hai bản sử dụng.

Cột cờ Lũng Cú nằm trên đỉnh Lũng Cú có độ cao khoảng 1.470 m so với mực nước biển. Đây là một điểm nhỏ trên đoạn đường biên giới Việt Nam-Trung Quốc. Nếu mô phỏng một cách tương đối hình dạng đường biên giới Việt Nam-Trung Quốc thành chóp nón thì hai điểm thấp nhất theo vĩ độ là A pa Chải, Điện Biên và Sa Vĩ, Móng Cái, còn Lũng Cú là đỉnh của chóp nón này cũng là điểm cao nhất của cực Bắc Việt Nam.

Theo ghi chép, cột cờ Lũng Cú được xây dựng đầu tiên từ thời Lý Thường Kiệt. Lúc ban đầu, công trình chỉ làm bằng cây sa mộc dựng trên nền đất. Sau này, vào năm 1887, khi thực dân Pháp đã thôn tính hoàn toàn nước ta, cột đã được xây dựng lại. Từ đó đến nay, công trình đã được nhiều lần trùng tu hoặc xây dựng lại nhiều lần với kích thước, quy mô lớn dần theo thời gian và có diện mạo như ngày nay.

Theo thiết kế cột cờ mới được xây dựng với chiều cao 33,15m (hơn cột cờ cũ 10m) trong đó phần chân cột cao 20,25m, đường kính ngoài thân cột rộng 3,8m. Kiểu dáng bát giác của cột cờ khá gần với kiểu cột cờ Hà Nội. Chân, bệ cột cờ có 8 mặt phù điêu bằng đá xanh mô phỏng hoa văn mặt của trống đồng Đông Sơn và những họa tiết minh họa các giai đoạn qua từng thời kỳ lịch sử của đất nước, cũng như con người, tập quán của các dân tộc ở Hà Giang.

Thân cột cờ có cầu thang thang xoắn ốc 140 bậc có lối đi hẹp và ánh sáng vừa đủ sẽ dẫn lối đi bộ đi lên đỉnh. Vào thời điểm khánh thành, cột cờ được làm bằng nguyên một thân cây gỗ pơ mu cao gần 13m. Lá cờ tung bay trên đỉnh cũng tương tự như những lá cờ sử dụng trước đó, có diện tích 54m vuông. Đường lên đỉnh núi có cột cờ cũng được xây dựng lại với 839 bậc đá lên theo lối cũ và đồng thời xây một lối đi mới cũng có số lượng bậc là 839 đi xuống. Dưới chân cột là nhà lưu niệm trưng bày các dụng cụ lao động, trang phục, sản phẩm văn hóa của các dân tộc Hà Giang.

Cách cột cờ khoảng 330m là đồn biên phòng Lũng Cú nằm ngay dưới chân núi. Đơn vị có nhiệm vụ chính bảo vệ 25,5 km đường biên giới Lũng Cú giáp Trung Quốc. Tương truyền tại địa điểm dựng đồn biên phòng này, từ thời Tây Sơn sau khi đại thắng quân xâm lược phương Bắc, hoàng đế Quang Trung đã cho đặt một chiếc trống đồng rất lớn và cứ mỗi canh giờ trống lại được gióng lên ba hồi vang xa như để khẳng định chủ quyền đất nước.

Chính vì thế, Lũng Cú khi đọc chệch âm sang âm tiếng H’Mông là Long Cổ, tức trống của vua, và người H’Mông tại nơi đây hầu như đều biết đánh trống đồng. Rất có thể cũng vì một trong những lý do nói trên mà nhà nước Việt Nam khi xây dựng cột cờ đã đặt phù điêu trống đồng Đông Sơn dưới chân cột.

Để lá cờ đỏ sao vàng luôn tung bay trên đỉnh núi Rồng là biết bao giọt mồ hôi, sự mưu trí, dũng cảm của cán bộ, chiến sĩ biên phòng và người dân nơi đây. Lá cờ ấy luôn gắn bó với cuộc sống, sinh hoạt của quân và dân nơi đây, góp phần mang lại bình yên, bảo vệ vững chắc bờ cõi mà cha ông bao đời gây dựng, giữ gìn.

Kết luận

Hy vọng với các giải đáp trên thì mong là quý độc giả đã biết được cách giới thiệu về đá ở Hà Giang hay nhất hiện nay. Các thông tin trên được admin cập nhật cũng như thu thập thông tin từ nhiều nguồn chuẩn xác, hy vọng các bạn sẽ thích và ủng hộ cho Chamhocbai.com.

Bài viết đã được cập nhật mới nhất vào 02/2024!