Updated at: 14-04-2023 - By: Thầy Vũ Xuân Anh

Admin Chăm Học Bài hôm nay sẽ hướng dẫn các bạn cách “Phân tích đoạn thơ Cho gươm mời đến Thúc lang,…Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du” chuẩn nhất 06/2024.

Phân tích đoạn thơ Cho gươm mời đến Thúc lang,…Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du- Mẫu 1

Nguyễn Du đã sáng tạo nên những lời thoại biến hóa để nói lên chuyện ân oán, cái lẽ đời xưa nay, ca ngợi sự thủy chung tình nghĩa, lên án bọn bạc ác tinh ma. Cảnh báo ân báo oán là một tình tiết rất đậm làm nổi bật tinh thần nhân đạo của “Truyện Kiều”.

Từ Hải chuộc Kiều ra khỏi chốn thanh lâu, Kiều trở thành một mệnh phụ phu nhân. Chẳng bao lâu sau, Từ Hải đã có binh cường tướng mạnh:

“Trong tay người vạn tinh binh,

Kéo về đóng chật một thành Lâm Tri”.

Kiều đã dựa vào uy thế Từ Hải để báo ân báo oán.

Trong “Truyện Kiều”, cảnh báo ân báo oán là một tình huống giàu kịch tính, thể hiện ước mơ công lí ở đời. Cảnh báo ân báo oán được kể trong một đoạn thơ dài 162 câu thơ (từ câu 2289 đến câu 2450), Thúc Sinh, mụ quản gia, vãi Giác Duyên được báo ân. Hoạn Thư cùng 7 tên khác bị báo oán:

“Trước là Bạc Hạnh, Bạc Bà,

Bên là Ưng, Khuyển, bên là Sở Khanh.

Tú Bà với Mã Giám Sinh,

Các tên tội ấy đáng tình còn sao?”

Ở đây, chúng ta chỉ nói đến hai tình tiết: Kiều báo ân Thúc Sinh và báo oán Hoạn Thư. Tâm lí và cách ứng xử của Thúy Kiều, tính sáng tạo của Nguyễn Du là những điều mà ta có thể tìm hiểu và cảm nhận trong đoạn thơ này.

Báo ân Thúc Sinh

Sau khi mắc lừa Sở Khanh, Thúy Kiều bị Tú Bà bắt ép làm gái lầu xanh. Và Kiều đã gặp Thúc Sinh “cũng nòi thư hương” – Là con rể của quan Thượng thư, một con người phong tình “quen thói bốc rời”. Lúc đầu chỉ là “trăng gió”, nhưng về sau, Thúc Sinh và Thúy Kiều trở thành “đá vàng”. Thúc Sinh đã chuộc Kiều, lấy làm vợ lẽ: “Gót tiền phút đã thoát vòng trần ai”. Mặc dù sau này có chuyện đánh ghen, bị làm nhục, nhưng Thúc Sinh trong điều kiện có thể, nói với Hoạn Thư đưa Kiều ra Quan Âm Các “giữ chùa, chép kinh”, thoát khỏi kiếp tôi đòi. Tuy “thấp cơ thua trí đàn bà” nhưng tình cảm của Thúc Sinh đ ối với Thúy Kiều, trong bi kịch vẫn “nặng lòng”:

“Bây giờ kẻ ngược người xuôi,

Biết bao giờ lại nối lời nước non?”.

Có thể chê trách Thúc Sinh này nọ, nhưng Thúc Sinh là ân nhân của Kiều, đã giúp Kiều hoàn lương. Kiều là một người phúc hậu, nên nàng không bao giờ có thể quên ơn chàng.

Trong cuộc tầm nã của ba quân, gia đình Thúc Sinh đã được Kiều quan tâm “giữ giàng”:

“Lại sai lệnh tiễn truyền qua,

Giữ giàng họ Thúc một nhà cho yên”.

Cảnh báo ân diễn ra, Kiều đã dùng một chữ “mời” rất trọng vọng “cho gươm mời đến Thúc Lang”. Kiều nói về “nghĩa”, về chừ “tòng”, đề cao đạo lí thủy chung. Thúc Sinh là “người cũ”, là “cố nhân” mà Kiều “há dám phụ”. Nàng khẳng định cái tình nghĩa của Thúc Sinh đối với mình ngày xưa là vô cùng to lớn, sâu nặng: “nghĩa nặng nghìn non…”. Kiều đã dùng một số từ như: “nghĩa, nghìn non, Sâm Thương, chữ tòng, người cũ, cố nhân…” cùng với giọng điệu ôn tồn, biểu lộ một tấm lòng trân trọng, biết ơn một người đàn ông đã từng yêu thương mình, cứu vớt mình. Trái tim của Kiều rất nhân tình, nhân hậu; cách ứng xử của nàng đối với Thúc Sinh là giàu ân nghĩa thủy chung:

“Nàng rằng: Nghĩa nặng nghìn non,

Lâm Tri người cũ, chàng còn nhớ không?

Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng,

Tại ai, há dám phụ lòng cố nhân?”

Cái lễ vật chất mà Kiều báo ân Thúc Sinh cũng thật “hậu”, khẳng định cái nghĩa đối với “cố nhân” trong những năm tháng ở Lâm Tri là vô cùng sâu nặng:

“Gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân.

Tạ lòng, dễ xứng báo ân gọi là”.

Sau đó, Kiều dùng lời lẽ dân dã, sắc sảo để nói về “vợ chàng”. Bao năm tháng đã trôi qua, lòng Kiều vẫn chưa nguôi. “Miếng ngon nhớ mãi, đòn đau nhớ đời”, có phải như thế không? Vị thế đã đổi thay: kẻ là phạm tội, người là quan tòa đang ngồi trong trướng hùm giữa cảnh “gươm lớn giáo dài”:

“Vợ chàng quỷ quái tinh ma,

Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau.

Kiến bò miệng chén chưa lâu,

Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa”.

Kiều đã có hai cách nói khác nhau: nói về ân nghĩa thì trang trọng, ôn tồn; nói về oán thì nôm na, chì chiết. Nguyễn Du đã tạo nên hai giọng điệu, hai thứ ngôn ngữ trong một lượt, lời của Thúy Kiều, điều đó cho thấy thi hào rất tinh tế, sâu sắc khi thể hiện tâm lí nhân vật.

Dù là được báo ân, nhưng đứng trước cảnh “Bác đồng chật đất, tinh kì rợp sân”, Thúc Sinh cực kì khủng khiếp: “Mặt như chàm đổ, mình dường dễ run”, mồ hôi toát ra “ướt dầm”, không nói được một lời nào, sống trong tâm trạng vừa “mừng”, vừa “sợ”:

“Lòng riêng mừng sợ khôn cầm,

Sợ thay mà lại mừng thầm cho ai”.

Báo oán Hoạn Thư.

Từ lần bị đánh ghen đêm ấy. đến nay đã bao năm tháng? Gặp lại Hoạn Thư lần này, trong tư thế của người chiến thắng ra tay báo oán, Kiều đã “chào thưa” bằng những lời “mát mẻ”:

“Thoắt trông nàng đã chào thưa:

Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây!”

Giọng nói trở nên chì chiết, đay nghiến. Các chữ “mấy tay”, “mấy gan”, như những mùi dao sắc lạnh:

‘‘Đàn bà dễ có mẩy tay

Đời xưa một mặt, đời này mấy gan!”

Kiều nghiêm giọng cảnh cáo Hoạn Thư đã từng hành hạ mình, làm cho mình đau khổ: “Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều”.

Là “thủ phạm” đang đứng giữa pháp trường, xung quanh là bọn đao phủ đã “gươm tuốt nấp ra”, Hoạn Thư “hồn lạc phách xiêu”. Người đàn bà này tự biết tội trạng mình, cảnh ngộ mình, khó lòng thoát khỏi lưỡi gươm trừng phạt? Vốn khôn ngoan, sắc sảo, đứa con của “họ Hoạn danh gia” đã trấn tĩnh lại, tìm cách gỡ tội. Một cái “khấu đầu” giữ lễ, khi chân tay đang bị trói. Trước hết nhận tội “ghen tuông” và lí giải đó là chuyện “thường tình” của đàn bà. Tiếp theo Hoạn Thư gợi lại chút “ân tình” ngày xưa: một là, đã cho Kiều xuống Quan Âm Các “giữ chùa chép kinh”, không bắt làm thị tì nữa; hai là, khi Kiều bỏ trốn mang theo chuông vàng khánh bạc, đã bỏ qua. Cách nói rất khéo, chỉ gợi sự thật và chuyện cũ ra, chỉ người trong cuộc mới biết. “Nghĩ cho” là nhớ lại cho, suy nghĩ lại cho:

Nghĩ cho khi gác viết kình,

Với khi khỏi của dứt tình chẳng theo”.

Đối với Kiều, Hoạn Thư đã từng nói với Thúc Sinh: “Rằng: tài nên trọng mà tình nên thương”. Tuy “Chồng chung chưa dễ ai nhiều cho ai”, nhưng trong thâm tâm, Hoạn Thư “kính yêu” Thúy Kiều. Hoạn Thư tự nhận tội và xin Thúy Kiều rộng lượng:

“Trót lòng gây việc chông gai,

Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng”.

Lời gỡ tội của Hoạn Thư vừa có lí, vừa có tình. Lời cầu xin đúng mực, chân thành. Vì thế, Kiều phải “khen cho”: “Khôn ngoan đến mức nói năng phải lời”. Không thể là “người nhỏ nhen”, Kiều đã tha tội cho Hoạn Thư:

“Đã lòng tri quá thì nên,

Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay”.

Sự việc diễn ra quá bất ngờ, ngoài sức tưởng tượng của nhiều người, vốn là một phụ nữ trung hậu, đã từng nếm trải bao cay đắng và ngang trái trong cuộc đời, vả lại Kiều cũng tự biết rằng mình đã xâm phạm đến hạnh phúc của người khác. Tha tội Hoạn Thư, Thúy Kiều càng tỏ ra vô cùng cao thượng.

Ai đã từng đọc bản dịch “Kim Vân Kiều truyện”, đem đối chiếu với “Truyện Kiều”, ta mới thấy hết tài sáng tạo của ngòi bút thiên tài Nguyền Du, nhất là trong cảnh báo ân báo oán. Cảnh pháp trường thời trung cổ được miêu tả ước lệ mà không kém phần uy nghiêm! Lời thoại rất gọn mà sắc đã làm nổi bật tâm lí, tính cách nhân vật Thúc Sinh lành mà nhát sợ, Hoạn Thư thì khôn ngoan, sắc sảo. Kiều rất trung hậu, cao thượng, bao dung.

Nguyễn Du đã sáng tạo nên những lời thoại biến hóa đẽ nói lên chuyện ân oán, cái lẽ đời xưa nay, ca ngợi sự thủy chung tình nghĩa, lên án bọn bạc ác tinh ma. Cảnh báo ân báo oán là một tình tiết rất đậm làm nổi bật tinh thần nhân đạo của “Truyện Kiều”.

Phân tích đoạn thơ Cho gươm mời đến Thúc lang,…Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du- Mẫu 2

Đã bước sang thế kỉ XXI nhưng Nguyễn Du và Truyện Kiều vẫn có sức hấp dẫn lớn đối với hàng triệu độc giả Việt Nam và thế giới. Cho đến nay Nguyễn Du vẫn là đại thi hào duy nhất của dân tộc, Thúy Kiều vẫn là kiệt tác số một của văn học Việt Nam. Trong tác phẩm của mình, Nguyễn Du viết : “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”, câu thơ ấy đã bộc lộ rất rõ quan điểm đề cao chữ tâm cũng như trái tim giàu lòng yêu thương của tác giả. Tấm lòng ấy phần nào được bộc lộ qua cách xử sự hết sức nhân văn trong đoạn trích “Thúy Kiều báo ân báo oán”.

Dân gian ta có câu “Ơn đền oán trả”, quan điểm ấy đã thể hiện một thái độ rạch ròi, dứt khoát trong cách sống của người Việt. Có lẽ cách sống ấy đã có từ ngàn đời nay, được thử thách qua thời gian . Cho đến nay nó vẫn còn nguyên vẹn giá trị, chỉ có điều ơn trả thế nào, oán báo ra sao cho có văn hóa thì thật khó. Trong đoạn trích này thông qua việc báo ân oán của Thúy Kiều, Nguyễn Du đã gián tiếp bộc lộ văn hóa ứng xử của mình, chính ở đây tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du bộc lộ rõ hơn bao giờ hết. Trước hết là báo ân:

Cho gươm mời đến Thúc Lang,
Mặt như chàm đổ minh dường dẽ run.
Nàng rằng : Nghĩa nặng nghìn non,
Lâm Tri người cũ chàng còn nhớ không?
Sâm Thương chẳng vẹn chữ tong,
Tại ai há dám phụ lòng cố nhân?
Gấm trăm cuốn bạc nghìn cân,
Tạ lòng dễ xứng báo ân gọi là.
Vợ chàng quỷ quái tinh ma,
Phen này kẻ cắp, bà già gặp nhau.
Kiến bò miệng chén chưa lâu,
Mưa sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa.

Thực ra đoan Thúy Kiều báo ân báo oán không chỉ gồm báo ân Thúc SInh và báo oán Hoạn Thư mà còn báo ân với Giác Duyên; báo oán với :

Trước là Bạc Hạnh, Bạc Bà.
Bên là Ưng Khuyển, bên là Sở Khanh.
Tú Bà với Mã Giám Sinh…

Tuy vậy đoạn trích đã lược bớt để làm nổi bật cuộc đối thoại giữa Kiều với Thúc Sinh và Hoạn Thư mà vẫn đảm bảo nội dung ơn đền, oán trả. Trước tiên là báo ân, âu đó cũng là việc làm hợp lẽ đời. Thúc Sinh được mời đến trong cảnh oai nghiêm nơi Kiều xử án “Cho gươm mời đến Thúc Lang”. Hình ảnh “gươm” nói rõ quyền uy mà Kiều đang có trong tay nhờ gặp được Từ Hải – người anh hùng “đội trời đạp đất”. Kiều giờ đây thật vững vàng, từng trải để nhận ra người ơn, kẻ oán, hoàn toàn khác xa với cô Kiều với thân phận “con ong, cái kiến” trước kia. Chứng kiến sự uy nghiêm đó Thúc Sinh tỏ ra sợ hãi đến mức mất cả thần sắc “mặt như chàm đỏ” và người run như con chim dẽ. Hình ảnh tội nghiệp ấy hoàn toàn phù hợp với tính cách có phần nhu nhược của Thúc Sinh. Và đó cũng là chi tiết có ảnh hưởng đến cách báo oán Hoạn Thư ở đoạn sau. Sau hai câu đầu nói về Thúc Sinh, mười câu thơ còn lại là đoạn đối thoại của Kiều với Thúc Sinh. Qua lời nói của Kiều có thể thấy nàng rất trọng tấm lòng và sự giúp đỡ của Thúc Sinh dành cho nàng trong cơn hoạn nạn, nàng gọi đó là “nghĩa nặng nghìn non”. Đó là một cách so sánh rất cao, nghĩa nặng như hàng ngàn trái núi. Để xưng hô với Thúc Sinh có lúc Kiều gọi chàng là “người cũ” mang sắc thái thân mật, gần gũi; lúc lại dùng “cố nhân” mang sắc thái trang trọng, kính trọng. Có lẽ đó cũng là hai sắc thái tình cảm Thúy Kiều dành cho Thúc SInh. Với Kiều việc Thúc Sinh đưa Kiều ra khỏi lầu xanh, cứu nàng thoát khỏi cảnh đời ô nhục, cho nàng những ngày tháng êm ấm trong cuộc sống gia đình là cái ơn vô cùng lớn mà cô không thể nào trả hết “Gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân” cũng chưa dễ xứng với ơn nghĩa đó. Cao hơn cả vật chất chính là tấm lòng “nghĩa nặng nghìn non” mà cô dành cho chàng Thúc. Khi nói với Thúc Sinh, Kiều dùng những từ Hán Việt: nghĩa , chữ tong (theo), cố nhân, tạ lòng…điển cố Sâm Thương. Cách nói trạng trọng này phù hợp với chàng thư sinh họ Thúc, đồng thời diễn tả được tấm lòng biết ơn trân trọng của Thúy Kiều đối với Thúc Sinh.
Trong khi nói với Thúc Sinh, Kiều đã nói về Hoạn Thư. Bởi vì nàng hiểu nỗi đau khổ của nàng khi gắn bó với Thúc Sinh không phải do chàng gây ra mà thủ phạm chính là Hoạn Thư “Tại ai há dám phụ lòng cố nhân”. Vẫn đang nói với Thúc Sinh nhưng khi nói về Hoạn Thư ngôn ngữ của Kiều lại hết sức nôm na, bình dị. Nàng dùng những thành ngữ quen thuộc “kẻ cắp bà già gặp nhau” hay “kiến bò miệng chén”. Cách nói ấy vừa tạo ngữ điệu đanh hơn vừa theo quan điểm “ác giả ác báo” của nhân dân nên mươn luôn lời ăn tiếng nói của nhân dân để diễn đạt. Từ cách nói này để cô chuyển sang Hoạn Thư – báo oán. Đoạn này gồm những lời đối thoại trực tiếp giữa Thúy Kiều và Hoạn Thư. Trong hai đoạn lời nói của Kiều lộ rõ thái độ mỉa mai với Hoạn Thư. Nàng vẫn cố tình giữ thái độ và cách xưng hô như hồi còn làm hoa nô trong nhà họ Hoạn:

Thoắt trong nàng đã chào thưa:
Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây.

Thái độ “chào thưa” hay gọi Hoạn Thư là “tiểu thư” khi giữa hai người đã có sự thay đổi ngôi thứ, nhất là vào lúc này Kiều đang ngồi ở ghế xử án và Hoạn Thư là kẻ có tội thì điều đó quả là một đòn mỉa mai quất mạnh vào danh gia họ Hoạn. Nhưng không dừng lại ở đó sang những câu nói sau giọng của Kiều đã dần thay đổi, giọng đay nghiến, phẫn uất càng ngày càng tăng tiến. Người ta như cảm nhận được giọng nói rành rọt từng tiếng đang dằn ra, nhấn mạnh:

Đàn bà dễ có mấy tay,
Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan!
Dễ dàng là thói hồng nhan,
Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều.

Cách nói này quả là xứng với lối đối đáp “vỏ quýt dày có móng tay nhọn” nếu không cái mụ nham hiểm giết người không dao ấy lại lấn lướt như trước kia Kiều đã từng chịu trận. Đến đây ta thấy thái độ quyết trừng trị Hoạn Thư của Kiều cho bõ những ngày tháng Kiều bị mụ ta hành hạ.

Vậy liệu Hoạn Thư đối phó thế nào trước thái độ ấy.

Hoạn Thư hồn lạc phách xiêu,
Khấu đầu dưới trướng liệu điều kêu ca.

Quả thật là khôn ngoan đến giảo hoạt. Nhận thấy điều bất lợi đang đến gần mụ ta đã cố gắng trấn tĩnh để “liệu điều kêu ca”.

Rằng : Tôi chút phận đàn bà,
Ghen tuông thì cũng người ta thường tình.

Một câu nói thật khôn khéo đến mức tinh vi. Thứ nhất mụ nói về tâm lý chung của phụ nữ : ghen tuông là chuyện thường tình, cách nói này vừa để kêu gọi lòng trắc ẩn của người đàn bà trong Kiều vừa có tính phổ quát. Thứ hai ngôn ngữ sắc như dao “chút phận” – hạ thấp mình thành nhỏ bé, “thường tình” – đó là chuyện bình thường chứ không đáng tội: “chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai”. Qua miệng lưỡi biện bạch của mụ, tội nhân đã trở thành nạn nhân của chế độ đa thê. Mà đã là nạn nhân ai lại nỡ trừng trị. Hoạn Thư quả là một luật sư tự bào chữa cực giỏi. sau đó như lẽ tất yếu để “lấy lòng” Thúy Kiều, Hoạn Thư đã “kể công” với Kiều : cho nàng ra gác Quan Âm viết kinh, không bắt giữ khi nàng bỏ trốn khỏi nhà họ Hoạn. Cuối cùng Hoạn Thư nhận tội và trông chờ tấm lòng bao dung, độ lượng của Kiều:

Trót lòng gây việc chông gai,
Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng.

Quả thực đó là một bài đối thoại được sắp xếp chặt chẽ, logic, hợp lý. Qua lời đối thoại ấy Kiều phải thừa nhận đó là con người: “Khôn ngoan đến mực nói năng phải lời”. chính những lời nói đó khiến cho Kiều bị thuyết phục và phải phân vân:

Tha ra thì cũng mang đời,
Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen.

Hoạn Thư đã biện bạch đến thế nếu Kiều quyết trả thù thì lại trở thành người nhỏ nhen, ích kỷ. Và thái độ của Kiều đã thay đổi so với đoạn trước. Hoạn Thư đã biết lỗi “Đánh người chạy đi chứ không ai đánh người chạy lại”.

Như vậy qua đoạn trích này ta thấy Hoạn Thư quả là một người “quỷ quái, tinh ma”. Tất nhiên việc Hoạn Thư được tha bổng không chỉ vì có khả năng “tự bào chữa” mà chủ yếu là do tấm lòng vị tha độ lượng của Kiều. Qua đó tấm lòng nhân ái bao dung của người con gái ấy một lần nữa lại sáng lên.

Đoạn thơ là sự phản ánh ước mơ, khát vọng công lý chính nghĩa của thời đại Nguyễn Du : người bị áp bức, đau khổ được ngồi ghế quan tòa cầm cán cân công lý để thực hiện triết lý sống của dân gian “ơn đền oán trả”.

Phân tích đoạn thơ Cho gươm mời đến Thúc lang,…Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du- Mẫu 3

Đã có khá nhiều lời bình phẩm và kiến giải về màn “Báo ân báo oán” trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, thậm chí có những ý kiến trái ngược xung quanh việc Kiều tha bổng Hoạn Thư trong khi lại thẳng tay trừng trị “lũ người bạc ác tinh ma” khác. Trong bài viết này, tôi xin bổ sung một số kiến giải theo quan điểm riêng của mình, mong bạn đọc có ý kiến khác thì cùng trao đổi…

Với kiệt tác “Truyện Kiều”, Nguyễn Du thể hiện thiên tài văn học ở nhiều phương diện, ở toàn bộ tác phẩm, đồng thời cũng thật xuất sắc trong từng trường đoạn, trong đó có đoạn thể hiện quan hệ tay ba giữa Thúc Sinh – Hoạn Thư và Thúy Kiều. Đoạn trích “Thúy Kiều báo ân báo oán” trong sách giáo khoa Ngữ văn 9 (tập 1) đã lược bỏ quang cảnh pháp đình, đoạn Thúy Kiều đền ơn vãi Giác Duyên và bà quản gia trong dinh họ Hoạn, chỉ giữ lại hai đoạn đền ơn Thúc Sinh và xử án Hoạn Thư (do khuôn khổ của một giờ dạy và đặc thù của đối tượng tiếp nhận). Dù vô tình hay hữu ý, các tác giả soạn sách đã làm nổi bật quan hệ tay ba: Thúc Sinh – Hoạn Thư – Thúy Kiều ở màn chót của nó, và chính tại đây, tính cách của từng nhân vật được hiện ra rõ ràng, sinh động hơn bao giờ hết. Mỗi câu chữ đều gợi nhớ đến quãng đời chìm nổi, đắng cay hoặc mong manh hạnh phúc đã qua của nàng Kiều, gợi đến những quan hệ quá khứ liên quan đến cả ba người.

Thật ra, người có đủ uy lực tuyệt đối để chủ tọa phiên tòa đúng ra phải là Từ Hải! Nhưng Từ vì quá tôn trọng nàng mà trao lại cái quyền đó, thành ra, dường như Kiều chưa được trang bị đầy đủ để ngồi ở vị trí quan tòa luận tội, và Từ Hải tuy “cùng ngồi” trên bục quan tòa mà hóa ra như thừa!

Vì thế cho nên, việc đền ơn cho Thúc Sinh không thể được coi là trọn vẹn tốt đẹp và việc trả oán không phải là không có mâu thuẫn, gây nên tranh cãi xưa nay.

Ta hãy xem Kiều đền ơn Thúc Sinh. Mở đầu đoạn: “Cho gươm mời đến Thúc lang”. Kể cũng lạ ở cái nghi thức “cho gươm mời”, dù là nghi thức thể hiện sự trang trọng ở nơi công đường, người được đưa đến để đáp đền ơn nghĩa, bất cứ ai sẽ không bao giờ ưa cái nghi thức ấy. Nhất là với Thúc Sinh, bản chất con người bạc nhược thế nào chắc Kiều đã quá hiểu. Chẳng trách gì mà anh ta nát cả thần hồn, bộ dạng thật thê thảm: “Mặt như chàm đổ mình dường dẽ run”. Nỗi sợ hãi từ phút đầu tới phút chót khiến cho chàng câm lặng, tuyệt nhiên không có bất kì một cử chỉ hoặc một câu cảm tạ nào!

Lời Kiều nói với Thúc Sinh gợi về quan hệ quá khứ giữa hai người: “Nàng rằng: Nghĩa nặng nghìn non/ Lâm Tri người cũ, chàng còn nhớ không?/ Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng/ Tại ai, há dám phụ lòng cố nhân?/ Gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân/ Tạ lòng, dễ xứng báo ân gọi là”…

Âm điệu của những câu thơ ít có sự ngắt nhịp mau nghe êm đềm phù hợp với lời nói dịu dàng, thể hiện được phần nào chân tình của Kiều. Bởi công bằng mà xét, Thúc Sinh quả là người có công khi cứu vớt nàng ra khỏi lầu xanh Tú Bà nhơ nhớp và quả là có thương xót nàng trong lúc bị Hoạn Thư đánh ghen cay nghiệt. Nhưng từ trong bản chất, Thúc Sinh là kẻ không dám xả thân vì người yêu nên cuối cùng bỏ cuộc nửa vời. Là người thông minh, nhạy cảm, Kiều hiểu được thực chất tình cảm ở con người này. Thế cho nên, đền ơn Thúc Sinh, trong lời lẽ của Kiều vẫn có chút gì gượng gạo. Sự gượng gạo đó được phủ lên bằng lớp từ hoa mĩ mang phong cách ngôn ngữ ước lệ, khuôn sáo: “nghĩa nặng nghìn non, Sâm Thương, chữ tòng, há dám phụ lòng cố nhân”.

Thêm một chi tiết cần lưu ý: lễ vật đền ơn. Với mụ quản gia và vãi Giác Duyên là: “Nghìn vàng gọi chút lễ thường/ Mà lòng Phiếu mẫu mấy vàng cho cân”. Họ được đền đáp bằng vàng, tương ứng với tấm lòng tốt vô tư của họ. Còn với chàng Thúc lại là: “Gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân”. Không nói chuyện lớn nhỏ, chỉ thấy chúng có sự khác biệt nhau về tên gọi và giá trị. Điều này đủ thấy Kiều là người thật rạch ròi, sòng phẳng và tinh tế.

Cuối lời đối thoại với Thúc Sinh, Kiều lại tung ra một tràng lời đe nẹt Hoạn Thư với một ngữ khí nôm na, quyết liệt đối lập với những lời cao nhã vừa rồi. Tiết tấu các câu thơ nhanh, dứt khoát, thành ngữ dân gian dày đặc khiến cho Kiều như vụt chuyển thành một người khác, đáo để một cách rất … đàn bà: “Vợ chàng quỷ quái tinh ma/ Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau/ Kiến bò miệng chén chưa lâu/ Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa”. Nếu quả thực Kiều hàm ơn sâu sắc và trân trọng Thúc Sinh, thiết nghĩ nàng sẽ không nỡ nói ra những lời cay nghiệt ấy…

Như đã nói trên, chủ tọa phiên tòa – xét theo tính hợp lí của đời sống thực, phải là Từ Hải, người ngoài cuộc. Oái oăm ở đây lại là Thúy Kiều, cùng lúc là nguyên cáo lẫn quan tòa. Mà phiên tòa chủ yếu giải quyết những ân oán cá nhân lại được phơi giữa ba quân, nơi thanh thiên bạch nhật. Bởi vậy, mọi phán quyết không thể tùy tiện chủ quan mà phải phù hợp với lẽ phải và lòng người. Vả chăng, một phiên tòa chân chính, vai trò của luật sư bào chữa luôn được đề cao. Ở đây, Hoạn Thư – bị cáo – đồng thời kiêm luôn trạng sư cho mình.Trước đây, tư thế bị động của một người đàn bà trước nguy cơ “bị cướp chồng”, nàng đã nhanh chóng nắm vai trò chủ động và trở thành đạo diễn tài ba của màn kịch: “Làm cho nhìn chẳng được nhau… Cho người thăm ván bán thuyền biết tay”. Giờ đây, trước tình thế liên quan đến tồn vong của danh dự và tính mạng, Hoạn Thư đã tỏ ra vô cùng xuất sắc. Có thể nói, Hoạn Thư là nhân vật phụ nữ sinh động, đáng nể và đáng sợ nhất trong số những nhân vật phụ nữ của “Truyện Kiều”! Thúy Kiều hơn Hoạn Thư ở tấm lòng nhưng không bao giờ là đối thủ của Hoạn Thư về mưu trí, kể cả ở màn Báo oán này.

Hãy xem Thúy Kiều vào vị trí quan tòa xử tội: “Thoắt trông nàng đã chào thưa:/ Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây”.

Câu “chào thưa” mát mẻ, mỉa mai, đay nghiến tuy có phản ánh cái thế “thay bậc đổi ngôi”, ngầm kiêu của Kiều, nhưng thực ra không có nhiều tác dụng để áp đảo đối phương “ngay từ loạt đạn đầu”, mà vô tình nó lại giống như một sự khơi gợi lòng kiêu hãnh của dòng dõi trâm anh thế phiệt ở ả ta mà thôi.

Rồi sau đó là một tràng lời đe nẹt chung chung, không có nội dung luận tội cụ thể: “Đàn bà dễ có mấy tay/ Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan/ Dễ dàng là thói hồng nhan/ Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều”.

Hầu như tất cả đều là những dáng dấp của thành ngữ dân gian để nói về đàn bà và lẽ đời nhân quả nói chung. Hớ hênh, vô ý hay là khó nói, Thúy Kiều như đã vô tình gợi ý cho Hoạn Thư quỷ quyệt để ả có cơ hội chộp lấy và xoáy sâu vào hai chữ “đàn bà”, “thói hồng nhan” trong lời tự bào chữa.

Sau một thoáng sợ hãi “hồn lạc phách xiêu”, Hoạn Thư nhanh chóng tìm ra con đường thoát thân tuyệt hảo bằng tất cả sự khôn ngoan vốn có.

Về lẽ chung, “Dễ dàng là thói hồng nhan/ Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều”. Đúng là như thế, nhưng cùng với nó còn một quy luật nữa, cô (Thúy Kiều) cũng cần phải hiểu: “Rằng: “Tôi chút phận đàn bà/ Ghen tuông thì cũng người ta thường tình”; “Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai”.

Nếu Thúy Kiều đánh trúng vào cái tội tàn ác, cay nghiệt trước đây của Hoạn Thư, thì Hoạn Thư đã khôn khéo lái mũi tên sang hướng khác: Đàn bà với chuyện ghen tuông! Bằng sự phản bác đúng lí, Hoạn Thư đã nhanh chóng san hòa 1-1, lập lại thế cân bằng giữa quan tòa và tội phạm. Từng từ ngữ một, Hoạn Thư đều cân nhắc kỹ lưỡng: Không chỉ “đàn bà” mà còn là “chút phận” (thu nhỏ hết mức thân phận vốn mỏng manh); “người ta” (quy luật phổ biến), “thì cũng” (tất yếu), “thường tình” (đó là chuyện dễ hiểu); “chưa dễ ai chiều cho ai” (ai lâm vào cảnh ấy, kể cả cô – Thúy Kiều – cũng hành xử thế thôi!). Qua lời Hoạn Thư, đòn ghen hiểm độc xưa kia mà ả dành cho Kiều trở thành nhẹ tênh.

Về lẽ chung thì như thế, còn tình riêng: “Nghĩ cho khi gác viết kinh/ Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo”.

Đây là đòn phản công hiểm ác nhất nhằm hạ uy thế quan tòa của Kiều. Một câu khiêm nhường: “nghĩ cho…” mà chẳng khác nào kim châm đau nhói vào tâm khảm của Kiều. Vì nó nhắc nhớ đến tháng ngày ở Quan Âm các với tâm trạng hoang mang lo sợ “miệng hùm nọc rắn ở đâu chốn này”, đến – đặc biệt đến – việc Kiều chạy trốn có mang theo chuông vàng khánh bạc để độ đường phòng thân mà không bị Hoạn Thư truy đuổi. Cái ân: “đánh” xong mở cửa cho ra của Hoạn Thư đối với Thúy Kiều, đó là hiện thực. Công bằng mà xét, so với lũ Mã, Sở, Bạc…, Hoạn Thư hơn chúng là không đẩy Kiều tới bước đường cùng và không phải không có lúc ứng xử với Kiều một cách “quân tử”.

Và nữa: “Lòng riêng riêng những kính yêu”, lý lẽ này của Hoạn Thư cũng có cơ sở thực tiễn khá vững vàng, bởi đã có đến ba lần Hoạn Thư vì “tri ngộ” tài năng của Kiều mà có phần nương nhẹ, thậm chí thương cảm với Kiều khi nàng trong tay ả.

“Già dơ” hơn, Hoạn Thư gạt lẽ chung, tình riêng ra một bên, nhận tội lỗi về mình: “Trót đà gây việc trông gai”. Một cách nói giảm nhẹ, khiến người nghe có cảm giác rằng cái sự đánh ghen có trù liệu kĩ càng, bài bản và cay độc trước đây của Hoạn Thư dành cho Thúy Kiều chỉ là đã quá tay ngoài chủ ý! Và cuối cùng, Hoạn Thư đánh vào tình cảm và sĩ diện của đối phương: “Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng?”. Câu nói chứa đựng sự tâng bốc, đề cao lòng nhân hậu của Kiều và xin xỏ; nhưng xin xỏ mà vẫn giữ được cái thế không van lơn, cái thế của một người làm chủ tình huống, mang theo cái “hách” của dòng dõi trâm anh thế phiệt.

Có thể nói, trong màn trả ân báo oán, Hoạn Thư đã bộc lộ sự khôn ngoan kiệt xuất trong vai trò trạng sư tự bào chữa cho mình.

Với lời tự bào chữa đầy thuyết phục ấy của Hoạn Thư, vị quan tòa Thúy Kiều không thể không tha bổng cùng vời lòng thầm phục đối thủ: “Khen cho: “Thật đã nên rằng/ Khôn ngoan đến mực nói năng phải lời/ Tha cho thì cũng may đời/ Làm ra mang tiếng con người nhỏ nhen/ Đã lòng tri quá thì nên/ Truyền quân lệnh, xuống trướng tiền tha ngay”.

Xem thế, cuộc đền ơn trả oán của Kiều lại trở thành dở dang, không trọn vẹn, như tất cả những dang dở không trọn vẹn trong suốt cuộc đời nàng.

Kết luận

Hy vọng với các giải đáp trên thì mong là quý độc giả đã biết được cách “Phân tích đoạn thơ Cho gươm mời đến Thúc lang,…Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du” chuẩn và chính xác nhất hiện nay. Các thông tin trên được admin cập nhật cũng như thu thập thông tin từ nhiều nguồn chuẩn xác, hy vọng các bạn sẽ thích và ủng hộ cho Chamhocbai.com.

Bài viết đã được cập nhật mới nhất vào 06/2024!